Bí mật của bố tôi
7:54 PMTừ nhỏ đến lớn, tôi luôn là trò cười của bạn bè vì tôi rất dở trong khả năng tìm đường. Có lần, cậu bạn tôi hài hước: “Hy vọng lối lên Thiên Đường cũng có bảng chỉ dẫn, nếu không cậu lạc mất”.
Tôi cười:
- Tớ chỉ cần tìm một ngọn đồi có hàng rào nhiều cây hoa giấy - Và khi cậu ta nhíu mày suy nghĩ xem đó là cái gì, thì tôi kể cho cậu ta nghe câu chuyện về bố tôi.
Ông bà nội tôi rất nghèo, bố và 5 anh em trai phải cố gắng ghê gớm để tồn tại. Chính thời thơ ấu đó đã làm cho bố tôi trở thành một người cứng rắn.
Khi anh em chúng tôi nhận ra rằng những đứa cùng lớp đều được bố mẹ cho tiền tiêu vặt, chúng tôi đã hỏi xin bố tiền. Bố bình thản:
- Nếu các con đã đủ lớn để xin tiền thì các con cũng đủ lớn để kiếm tiền.
Và thế là, chúng tôi đi làm đủ các việc vặt cho khu phố, như dọn vườn hoặc lau nhà. Bố không bao giờ hỏi về số tiền mà chúng tôi kiếm được, cũng không bao giờ khen.
Khi chúng tôi lớn lên, đi học khá xa nhà. Không có xe riêng, chúng tôi phải đi xe bus. Dù bến xe bus cách nhà tới gần 2km, cả vào những ngày mưa gió bão bùng, bố tôi cũng chẳng bao giờ lái xe ra đón. Nếu ai đó càu nhàu (anh trai tôi càu nhàu suốt), bố sẽ nói nghiêm khắc:
- Chân các con để làm gì?
Còn tôi thì không ngại đi bộ bằng nỗi sợ đi một mình dọc theo đường cao tốc, vòng một vòng rồi mới có đường đi lên đồi để về nhà. Tôi cũng cảm thấy tủi thân vì dường như bố tôi chẳng quan tâm đến sự an toàn của tôi. Nhưng rồi cảm xúc đó biến mất vào một buổi tối mùa hè.
Đó là một ngày mệt mỏi với những bài thi dài làm tôi kiệt sức. Tôi chỉ muốn về nhà và nằm ngủ. Khi xe bus dừng ở trạm cuối, tôi xốc lại cái balô đầy ụ sách, chuẩn bị đi bộ một chặng dài.
Tôi đi dọc theo đường cao tốc ở dưới chân đồi, cho đến khi nhìn thấy một hàng rào nhiều hoa giấy chạy dọc theo con đường lên đồi dẫn tới nhà tôi. Lúc nào tôi cũng cảm thấy dễ chịu khi nhìn thấy cái hàng rào ấy, vì như thế có nghĩa là tôi sắp về đến nhà.
Hôm đó, khi tôi vừa nhìn thấy đám hoa giấy thì trời bắt đầu mưa. Tôi ngồi xuống để nhét mấy cuốn sách đang cầm trên tay vào balô, rồi lấy ra cái ô. Khi đứng dậy, tôi chợt nhìn thấy cái gì đó màu xám di chuyển dọc theo hàng rào. Nhíu mắt nhìn kỹ hơn, tôi nhận ra đó chính là cái mũ của bố tôi. Và tôi biết rằng - mỗi ngày tôi về nhà, bố đều đứng trên đồi, sau dãy hàng rào để quan sát, cho đến khi bố biết tôi về nhà an toàn. Tôi lau mắt. Bố đã quan tâm mà tôi đã không bao giờ biết. Hôm đó, khi tôi về đến nhà, tôi thấy bố đang ngồi như không biết gì trên ghế bành, nói giọng thản nhiên:
- Về rồi hả con?
“Cậu thấy đấy” - Tôi kết thúc câu chuyện kể cho người bạn - “Tớ chẳng lo là không tìm thấy Thiên Đường”.
Có nhiều người nói Thiên Đường là khi bạn nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm, hay một chùm sáng trên cao. Nhưng tôi thì nghĩ tôi sẽ nhìn thấy một dãy hàng rào đầy hoa giấy dẫn lên đồi, và bố tôi sẽ đợi ở trên đỉnh đồi, và nói: “Về rồi đấy hả con?”.
Thầy Washington
8:28 PMMột lần, khi đang học lớp 10, tôi hết giờ học sớm nên chạy sang một lớp khác để đợi người bạn. Khi nhìn thấy tôi thập thò ở cửa lớp, thầy giáo, sau này tôi biết tên thầy là Washington, bỗng nhiên chỉ tay thẳng về phía tôi:
- Em lên bảng, giải bài tập này đi!
- Em không phải là học sinh lớp này ạ! - Tôi đáp.
- Thế thì sao? Cứ lên bảng đi!
- Em không thể! - Tôi lặp lại.
- Tại sao lại không? - Thầy cũng lặp lại.
Tôi ngừng một chút vì xấu hổ. Cuối cùng, tôi lên tiếng:
- Vì em học ở lớp Giáo dục Đặc biệt. Trí não của em phát triển không tốt...
Thầy Washington đứng lên khỏi ghế, lại gần, nhìn thẳng vào mắt tôi và nói nghiêm nghị:
- Đừng bao giờ nói điều đó lần nữa! Điều mà những người khác nói về em không nhất thiết phải trở thành cuộc sống của chính em!
Đó là một khoảnh khắc mà đến bây giờ tôi vẫn chưa quên. Một mặt, tôi quá ngượng vì những học sinh khác trong lớp cười ồ lên, họ biết tôi học ở lớp Giáo dục Đặc biệt. Nhưng mặt khác, tôi, lần đầu tiên, thấy mình được ai đó thật sự quan tâm, dù biết rõ tôi thế nào.
Từ đó, thầy Washington trở thành người bạn lớn của tôi. Trước khi gặp thầy, tôi từng thi trượt hai lần, bị đưa từ lớp 5 xuống học lớp 4, và được đưa vào lớp Giáo dục Đặc biệt từ năm lớp 8. Nhưng những gì thầy Washington nói đã làm tôi thay đổi suy nghĩ.
Thầy Washington luôn nhắc tôi: "Nhìn một người chỉ với những gì anh ta đang có, và anh ta sẽ càng ngày càng tệ. Nhưng nhìn anh ta như thể anh ta là con người mà anh ta có thể trở thành, rồi anh ta sẽ trở thành con người mà anh ta nên trở thành". Thầy Washington luôn thể hiện sự kỳ vọng vào mỗi học sinh của mình, và chúng tôi luôn gắng sống đúng với kỳ vọng đó.
Một hôm, tôi nghe thấy thầy nói chuyện với các anh chị lớp 12. Thầy nói: "Mỗi người trong chúng ta đều có một sức mạnh tiềm ẩn". Chờ đến hết buổi nói chuyện, tôi chạy lại gặp thầy:
- Có phải em cũng có sức mạnh tiềm ẩn không, thầy Washington? - Tôi hỏi một câu mà sau này tôi cho là ngớ ngẩn nhất trên đời.
- Tất nhiên rồi, cậu Brown! - Thầy đáp, dù tôi không hiểu thầy biết được họ của tôi từ bao giờ.
- Nhưng em thi trượt cả môn tiếng Anh và môn Toán. Em phải học ở lớp Giáo dục Đặc biệt. Em chậm hơn các bạn khác!
- Thế thì sao? - Thầy nói bình thản - Như thế chỉ có nghĩa là em phải cố gắng nhiều hơn.
Trường học là một cuộc chiến đấu đối với tôi. Thỉnh thoảng, tôi vẫn thi trượt một hai môn học, nhưng thầy Washington nói rằng tôi sẽ vượt qua.
Đến năm lớp 12, trường tôi có những khoá học kỹ năng nghề nghiệp. Bình thường, học sinh của lớp Giáo dục Đặc biệt không tham dự khoá Diễn thuyết và Truyền hình, nhưng thầy Washington đứng ra đảm bảo cho tôi theo học. Thật là một điều kỳ diệu.
Hai năm kể từ khi ra trường, tôi đã thực hiện 5 phóng sự truyền hình và được phát trên TV. Lần đầu tiên chương trình riêng của tôi "Bạn xứng đáng!" lên sóng một kênh truyền hình về giáo dục, tôi nghe thấy tiếng chuông điện thoại.
- Làm ơn cho tôi gặp anh Brown - Tiếng ở đầu dây bên kia.
- Ai đấy ạ?
- Em biết ai sẽ là người gọi em mà!
Tất nhiên, ở bên cạnh tôi lúc nào cũng là thầy Washington.
Những chàng trai làm thuê
6:17 PMÔng cụ hỏi họ có muốn ngồi uống một chút cà phê không, nhưng họ từ chối. Họ giải thích rằng họ được trả tiền công theo giờ làm việc, nếu họ không làm mà ngồi uống cà phê thì cũng vẫn được trả tiền công, mà như thế thì không công bằng. Ông cụ mỉm cười khi nghe câu trả lời thật thà của hai chàng trai, và ra hiệu cho họ bắt đầu công việc.
Thực ra, việc thu dọn ở nhà ông cụ cũng không mấy khó khăn, vì căn phòng rất gọn gàng và cũng không có nhiều đồ đạc. Ông cụ ngồi một góc, thỉnh thoảng hỏi chuyện hai chàng trai. Sự có mặt của họ trong ngôi nhà làm cho ông có vẻ hào hứng hơn một chút.
Hai chàng trai dường như cũng hiểu điều đó nên vừa làm vừa vui vẻ tiếp chuyện ông cụ. Thỉnh thoảng, họ dừng lại để hỏi thăm ông cụ về một vài món đồ kỷ niệm nhỏ bé.
Ông cụ nói rằng ông chuyển nhà vì vợ ông, cũng là người thân duy nhất của ông, đã mất được một năm nay, và ông muốn dọn đến một căn hộ nhỏ hơn cho đỡ trống trải.
Vài giờ trôi qua và ngôi nhà bắt đầu không còn gì trừ những thùng đựng đồ đạc đã được dán cẩn thận. Một trong hai chàng trai chuyên dọn nhà thuê đi kiểm tra lại từng phòng để đảm bảo không bỏ quên gì cả. Trong một góc phòng ở tầng trên, anh nhìn thấy một chiếc hộp nhỏ - rất khó nhận ra vì nó cùng màu với gỗ sàn nhà. Khi nhấc chiếc hộp lên, anh tuột tay và một tập giấy tờ cùng những tấm ảnh rơi ra khắp sàn nhà. Thu dọn lại tập giấy, anh nhìn thấy một mảnh báo rất cũ, với tựa đề: “Hai cậu bé sinh đôi chết trong vụ tai nạn đắm thuyền”. Sau khi đọc qua bài báo, anh nhận ra rằng đó chính là hai cậu con trai của ông cụ, đã mất từ hơn 20 năm trước.
Chàng trai làm thuê thu dọn lại mọi thứ, sắp xếp cho ông cụ rồi nói với ông rằng bất kỳ khi nào ông cần giúp gì ở nhà mới, ông có thể gọi họ.
6 tháng sau, ông cụ mất. Trong di chúc của mình, ông để lại toàn bộ tài sản trị giá gần 2 triệu đôla cho “hai chàng trai dọn nhà thuê đã rất tử tế với tôi, làm cho tôi thấy như tìm lại được hai đứa con trai của mình”.
Viết bởi Barbara Chase-Pace Thục Hân (Dịch)
Không ai thành công một mình
5:21 PMSau không biết bao nhiêu buổi nói chuyện suốt đêm trên chiếc giường đông chật anh em, hai người con lớn có một quyết định. Họ sẽ tung một đồng xu. Người thua sẽ làm thợ mỏ, dùng toàn bộ thu nhập để chu cấp cho người thắng đi học. Còn người thắng, sau 4 năm học, sẽ chu cấp tài chính cho người còn lại đi học, dù bằng cách bán tranh hay phải đi làm thợ mỏ.
Đồng xu được tung lên, Albrecht Durer thắng cuộc và được đi học. Albert thua, và đi tới vùng mỏ đầy nguy hiểm, và trong suốt 4 năm, làm lụng để nuôi người anh em của mình ăn học.
Gần như ngay lập tức, những tác phẩm của Albrecht được rất nhiều người nhắc đến, bởi chúng thậm chí còn đẹp hơn cả tác phẩm của các bậc thầy trong trường. Và cho đến khi tốt nghiệp thì Albrecht đã bán được khá nhiều tranh và dành dụm được một khoản tiền.
Khi anh trở về, trong bữa ăn sum họp, Albrecht đứng dậy để cảm ơn người anh trai đã hy sinh 4 năm giúp mình hoàn thành được ước mơ. Và Albrecht nói:
- Anh Albert, bây giờ đã đến lượt anh. Anh hãy tới Nuremberg để theo đuổi ước mơ của mình. Em sẽ lo toàn bộ chi phí và chăm sóc gia đình.
Albert mỉm cười, rồi bật khóc:
- Không, anh không thể tới Nuremberg được. Đã quá muộn rồi. Bây giờ, sau 4 năm làm việc trong hầm mỏ, không còn ngón tay nào của anh là lành lặn. Thậm chí bây giờ anh còn bị thấp khớp ở tay phải nặng tới mức không thể nâng nổi một chiếc ly, nói gì đến việc cầm cọ vẽ. Cảm ơn em, nhưng bây giờ đã quá muộn rồi...
Hơn 450 năm đã qua. Cho tới bây giờ, hàng trăm bức chân dung, tranh màu nước, tranh than chì, tranh khắc gỗ và khắc đồng... của Albrecht Durer đã được treo ở những Viện bảo tàng lớn nhất thế giới. Nhưng có một điều kỳ lạ: có thể bạn, cũng như nhiều người, đều chỉ quen thuộc với một tác phẩm của Albrecht Durer. Đó là một ngày, để tỏ lòng kính trọng và biết ơn anh trai Albert, Albrecht Durer đã thực hiện một tác phẩm cẩn thận nhất trong đời: vẽ lại đôi bàn tay của anh trai mình, với lòng bàn tay hướng vào nhau và những ngón tay gầy guộc hướng lên trời. Ông chỉ gọi bức tranh của mình đơn giản là "Đôi tay", nhưng cả thế giới đều đặt tên cho kiệt tác đó là "Đôi tay cầu nguyện".
Nếu có lúc nào bạn nhìn vào bức tranh cảm động đó, hãy nhìn lại lần thứ hai. Nó sẽ nói với bạn rằng, không có ai, chắc chắn không có ai, có thể thành công một mình bao giờ!
Viết bởi Thục Hân (Dịch)
Phép thuật của những phù thủy
10:05 PMĐầu tiên là một vũ công balê hơi mập với ba chú ma bé nhỏ. Mỗi em lấy một chiếc kẹo. Khi “con ma” cuối cùng bốc một nắm kẹo, tôi nghe thấy “vũ công balê” quát:
- Mỗi người chỉ được lấy một cái kẹo thôi! Còn phải để cho những người đến sau chứ! Phải trung thực!
Tôi thấy thật vui vì trong bóng tối và không có ai nhìn thấy, một em nhỏ vẫn thực hiện đúng nguyên tắc trung thực của mình.
Các cô công chúa, những nhà du hành vũ trụ, những bộ xương và những người ngoài hành tinh là những vị khách tiếp theo. Có vẻ nhiều em nhỏ ghé qua nhà hơn là tôi tưởng, và dường như cái túi sắp hết kẹo. Ngay khi tôi định bật đèn phòng khách thì tôi thấy có bốn cô cậu bé nữa đi tới. Ba nhân vật lớn hơn thò tay vào túi và mỗi người lấy được một thanh sôcôla. Tôi nín thở, hy vọng còn ít nhất một cái kẹo cho cô bé phù thuỷ bé nhất. Nhưng khi cô bé rút tay ra khỏi túi, cô bé chỉ cầm mỗi một viên thạch bé tẹo màu da cam.
Lúc đó, ba cô cậu bé lớn hơn gọi to:
- Nào, Emily, đi thôi! Không có ai ở nhà để cho em thêm kẹo đâu!
Nhưng Emily ngập ngừng một chút nữa. Có thể em sẽ cố bấm chuông hay sao? Nhưng không, cô bé thả viên thạch bé xíu vào cái túi của mình rồi quay mặt vào cửa nhà tôi, nói to:
- Cảm ơn nhé, ngôi nhà! Tớ rất thích kẹo thạch đấy!
Rồi cô bé lũn chũn chạy theo các bạn.
Tôi mỉm cười trong bóng tối - nụ cười đầu tiên trong ngày kể từ lúc tôi bị ngã cầu thang. Hình như một cô phù thủy bé nhỏ đã phù phép cho tôi thì phải...
Viết bởi Evelyn M. Gibb - Thục Hân (Dịch)
CHIẾC CHUÔNG
10:27 PMÔng Pappy, chủ cửa đồ cũ đầu phố, có một nỗi buồn bí mật.
Một ngày nọ, khi đang lắp lại cái đèn lồng cũ để chuẩn bị giao cho khách, ông nghe thấy tiếng lanh canh của chiếc chuông treo ở cửa. Chiếc chuông đó có âm thanh rất hay, ông yêu nó nên treo lên cửa để chia sẻ tiếng nhạc với tất cả khách ra vào.
Ban đầu, ông không thấy ai. Vì
mái tóc gợn sóng mềm mại của cô bé khách hàng chỉ chạm tới mặt quầy.
- Ông giúp gì được cháu nào? -
Ông Pappy vui hẳn lên.
- Chào ông! - Cô bé ngước đôi mắt
nâu nhìn ông Pappy - Cháu muốn mua một món quà, ông ạ, cho ông ngoại cháu!
Ông Pappy gợi ý:
- Ông ngoại cháu có thích đồng hồ
bỏ túi không? Ông có một cái còn tốt lắm. Ông tự sửa nó đấy!
Cô bé không trả lời. Cô đi quanh
phòng, rồi lại gần cửa và đặt bàn tay bé nhỏ lên tay nắm. Cô lắc nhẹ cái cửa để
nghe tiếng nhạc kỳ lạ của chiếc chuông, và bỗng mỉm cười hào hứng.
- Chính là cái này đây - Cô bé
reo lên - Mẹ cháu nói ông cháu yêu âm nhạc lắm!
Ông Pappy sững lại. Ông không muốn
làm cô bé thất vọng, nhưng ông phải nói:
- Xin lỗi cháu! Chiếc chuông đó
ông không bán. Có thể ông cháu sẽ thích một cái đài nhỏ chăng?
Cô bé ngắm cái đài, rồi thở dài:
- Không, chắc là không đâu ạ!
Cố gắng để cô bé hiểu, ông Pappy đã
kể cho cô nghe rằng con gái ông từng chơi chiếc chuông đó, nên ông không muốn
bán.
Cô bé hơi sụt sịt, và nói:
- Cháu hiểu rồi ông ạ. Cháu cảm ơn
ông.
Bỗng nhiên, ông Pappy nghĩ đến
gia đình mình. Vợ ông đã mất. Con gái ông thì sau một lần giận gia đình đã bỏ
ra nước ngoài sống, và ông không liên lạc được với cô trong gần 10 năm rồi. Thế
thì tại sao không để chiếc chuông cho một người khác - một người có thể chia sẻ
nó với những người mà họ yêu thương?
- Chờ đã cháu! - Ông Pappy kêu
lên khi cô bé mở cửa và tiếng chuông lại vang lên - Ông quyết định bán chiếc
chuông. Khăn tay đây, cháu lau mũi đi nào.
Cô bé vui mừng vỗ tay:
- Ôi, cảm ơn ông!
- Được rồi! - Ông Pappy cũng thấy
vui, dù biết rồi mình sẽ rất nhớ cái chuông - cháu phải hứa sẽ giữ cái chuông cẩn
thận nhé, được không? - Rồi ông đặt chiếc chuông vào một chiếc túi giấy nâu.
- Cháu hứa - Cô bé nói. Bỗng cô
nhìn ông Pappy với ánh mắt lo lắng:
- Chiếc chuông này giá bao nhiêu ạ?
- Vậy cháu có bao nhiêu tiền nào?
- Ông Pappy hỏi với một nụ cười tinh nghịch.
Gia tài của cô bé là 2 đôla và 47
xu.
Ông Pappy nói như reo:
- Chà chà, cháu thật may mắn! Cái
chuông đó giá vừa đúng 2 đôla 47 xu!
Đến tận khi chuẩn bị đóng cửa
hàng, ông Pappy vẫn cứ ngẩn ngơ mãi vì nhớ chiếc chuông. Và bỗng ông lại nghe
thấy tiếng chuông reo. Ông cho rằng mình tưởng tượng, nhưng khi quay ra cửa,
ông nhìn thấy cô bé ban sáng. Cô bé đang cầm chiếc chuông lắc lắc và mỉm cười.
-
Gì thế này? Cháu đổi ý rồi sao?
-
Không ạ - Cô bé mỉm cười - Mẹ cháu nói chiếc chuông này là dành cho ông!
Trước khi ông Pappy kịp nói thêm
lời nào thì mẹ cô bé bước vào. Đôi mắt cô long lanh ướt, và cô nhìn ông Pappy,
nói:
- Con chào bố!
Còn cô bé thì kéo nhẹ gấu áo ông:
- Ông ơi, khăn tay đây, ông lau mắt
đi nào!
Cuộc đua ôtô đồ chơi
10:15 PMMất 3 ngày thì những miếng gỗ với bốn cái bánh xe mới trở thành một chiếc xe đua. Hơi lỏng lẻo, nhưng trông rất đẹp (ít nhất là mẹ nói thế). Gilbert chưa bao giờ được sở hữu một chiếc ôtô đồ chơi nên cậu thấy hết sức tự hào về chiếc xe Tia Chớp Xanh - một niềm hạnh phúc vì biết rằng mình đã tự làm được một thứ cho bản thân mình.
Rồi cuộc đua xe ôtô đồ chơi của lớp cũng đến. Với Tia Chớp Xanh trong tay và niềm tự hào trong trái tim, Gilbert ngẩng cao đầu bước vào cuộc thi. Nhưng sự hãnh diện của cậu nhanh chóng trở nên nhỏ bé. Chiếc xe của Gilbert rõ ràng là chiếc duy nhất được tự làm. Những chiếc xe khác hẳn đều là những “công trình” bố-và-con - với nước sơn bóng loáng, những hoạ tiết trang trí cầu kỳ và thậm chí là cả những thiết bị gắn thêm để tăng tốc độ. Một vài cậu bé cười khúc khích khi nhìn xe của Gilbert - chiếc xe đơn giản, trông thiếu hấp dẫn và lảo đảo như sắp bung ra đến nơi. Như thể còn chưa đủ, Gilbert còn là cậu bé duy nhất không có bố đi cùng đến cuộc thi.
Cuối cùng thì cuộc đua cũng bắt đầu. Chiếc xe nào chạy được xa nhất sẽ là người thắng cuộc. Lần lượt từng chiếc xe được “chủ” cho lăn bánh xuống con dốc bằng gỗ, và điểm mà xe dừng lại sẽ được đánh dấu. Cuối cùng chỉ còn xe của Gilbert cùng với chiếc xe “hiện đại” nhất và có vẻ sẽ chạy được xa nhất. Cô giáo chỉ dẫn cho Gilbert và cậu bạn kia cùng cho xe chạy một lúc. Cậu bé Gilbert 8 tuổi rụt rè hỏi cô có thể tạm ngừng cuộc thi một phút để cậu ước một điều được không. Tất nhiên cô giáo đồng ý. Và sau một phút, Gilbert bảo: “Em sẵn sàng rồi ạ”.
Tommy - chủ của chiếc xe “xịn” nhất - cùng với bố đứng bên cạnh, đã cho xe vào đường đua. Gilbert cũng nhấc Tia Chớp Xanh đặt vào vạch xuất phát - với hình ảnh của bố ở trong tim.
Thật bất ngờ, chiếc xe đơn giản của Gilbert lao đi với tốc độ kỳ lạ trong khi cả lớp hò reo. Và cuối cùng, Tia Chớp Xanh chỉ dừng lại trước xe của Tommy có một giây. Tia Chớp Xanh nhận được giải nhì.
Cô giáo lại gần Gilbert và mỉm cười hỏi:
- Em đã ước rằng em chiến thắng, đúng không Gilbert?
Gilbert - với đôi mắt sáng trong veo và nụ cười nhút nhát như mọi khi - trả lời:
- Không ạ, nếu em ước đánh bại bạn khác thì thật không công bằng. Em chỉ ước em sẽ không khóc và không nản lòng nếu như em thua.
Đôi khi trẻ em thông minh hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Gilbert đã không ước cho một kết quả tốt, mà ước cho mình có sức mạnh dù kết quả thế nào.
Viết bởi Thục Hân (dịch)
Món quà của Daniel
11:26 PM- Gia đình em đi hái quả thuê - Cậu bé vui vẻ - Cứ hết vụ quả ở một nơi thì phải chuyển sang nơi khác.
Tôi cho rằng cậu bé tươi cười này chắc không biết rằng mình đã lạc vào một lớp học mà chưa đứa trẻ nào từng nhìn thấy ai mặc quần rách. Có nhiều tiếng cười khúc khích, nhưng cậu bé cũng chẳng tỏ thái độ gì.
25 học sinh nhìn Daniel bằng ánh mắt nghi ngờ cho đến trận đá bóng chiều hôm đó. Daniel ghi một bàn và tạo nhiều cơ hội cho đồng đội. Đến lúc đó, tôi mới cảm thấy các học sinh khác trong lớp dành một chút tôn trọng cho người bạn mới.
Daniel chuyền bóng cho Charles. Đang ở vị trí thuận lợi, nhưng Charles - vốn là cậu học sinh “kém thể thao” nhất lớp - sút bóng lên trời. Cả đội bóng, và các “cổ động viên” ồ lên khó chịu. Chỉ có Daniel đến vỗ vào lưng Charles: “Đừng để ý, cậu bé, rồi sẽ có lúc cậu ghi được bàn thắng đẹp hơn nhiều!”
Charles cười, đứng thẳng hơn một chút và chơi tích cực hơn. Vào chính khoảnh khắc đó, tôi có cảm giác là cậu bé “hoang dã” này sẽ còn thay đổi được nhiều thứ - bao gồm cả chúng tôi.
Daniel dạy cả lớp đủ thứ. Huýt sáo giống tiếng gà kêu. Biết khi nào thì hoa quả cần được hái mà không cần nếm thử. Đối xử với mọi người ra sao, kể cả đối xử với Charles ra sao. Daniel không bao giờ gọi chúng tôi bằng tên, mà thường gọi tôi là “Cô giáo” và các bạn là “cậu bé”, hoặc “cô bé”. Các học sinh nữ thường đỏ mặt và mỉm cười khi được gọi như vậy.
Đến dịp Năm mới, học sinh bao giờ cũng đem quà tặng tới cho thầy cô giáo của mình. Năm nào cũng vậy, tôi sẽ mở những hộp quà, thường là nước hoa, khăn quàng hoặc ví, rồi cảm ơn các học sinh.
Buổi chiều hôm đó, khi các bạn khác đã về hết, Daniel lại gần bàn tôi:
- Hết vụ thu hoạch rồi cô giáo ạ. Ngày mai gia đình em sẽ chuyển đi.
Tôi sững người. Daniel lôi trong túi ra một viên đá màu xám, nhẹ nhàng đẩy về phía tôi.
- Em tặng cho cô giáo đấy! - Cậu bé nói, nhìn thẳng vào mắt tôi - Em đã đánh bóng nó thật đẹp, rất đặc biệt đấy!
Tôi không bao giờ quên được khoảnh khắc đó.
Nhiều năm đã trôi qua. Mỗi khi năm mới đến con gái tôi luôn đòi tôi kể về Daniel.
- Bây giờ Daniel phải lớn lắm rồi - Tôi sẽ kết thúc câu chuyện như vậy - Không biết cậu ấy trở nên thế nào...
- Chắc chắn là thành một người tốt - Con gái tôi luôn đáp - Mẹ kể nốt chuyện đi.
Tôi biết con gái tôi thích nghe cái gì - một bài học về sự thương yêu và quan tâm mà một cậu bé lớp 5 đã dạy cho một cô giáo, khi cậu ấy không có gì - nhưng là có tất cả mọi thứ - để trao tặng.
Tôi chạm vào viên đá và nói khẽ:
- Chào cậu bé, cô giáo đây. Hy vọng em không còn phải đi hái quả nữa. Và chúc em một năm mới tốt lành, dù em đang ở đâu.
Viết bởi Thục Hân (Dịch)
Hai mươi năm sau
7:49 PMBác Bob Butler mất cả hai chân trong một vụ nổ hầm mỏ vào năm 1965. Bác về nghỉ hưu ở quê nhà, sống yên ổn với lương hưu và công việc làm thêm ở một ga-ra ôtô nhỏ.
Hai mươi năm trôi qua. Hôm đó, bác đang làm việc một mình trong ga-ra. Trời rất nóng bức. Chợt bác nghe thấy tiếng kêu thét rất hãi hùng của một phụ nữ ở bên hàng xóm. Bác vội bỏ công việc, cố lăn chiếc xe lăn thật nhanh về phía ngôi nhà có tiếng kêu, nhanh hết sức có thể. Bác tiến đến ngôi nhà từ cửa sau, nhưng những bụi cây dày đặc làm chiếc xe lăn không thể vượt qua được. Bác Butler không suy nghĩ thêm một giây nào nữa, bác trượt xuống khỏi xe lăn, bắt đầu bò xuyên qua những bụi cây gai và đất đá.
“Mình phải vào được trong đó” - Bác tự nhủ và động viên mình - “Không quan trọng việc mình bị đau như thế nào. Có thể có người trong nhà còn đang bị đau hơn mình”.
Cuối cùng, bác Butler cũng vào được ngôi nhà qua cửa sau, và lần theo tiếng kêu, bác bò đến bể bơi. ở đó, một cô bé 3 tuổi đang bị chìm xuống tận đáy bể. Cô bé khuyết tật, không có tay, hình như bị ngã xuống đó và thậm chí không thể vùng vẫy được. Mẹ cô bé đứng bên thành bể, kêu khóc rất thảm thiết. Vừa nhìn thấy bác Butler, bà vừa khóc, kêu cứu, vừa nói rằng mình cũng không biết bơi.
Ngay lập tức, bác Butler lặn xuống đáy bể và bế cô bé - tên là Stephanie - lên bờ. Lúc này, mặt cô bé đã xanh xám, mạch không đập và cô bé không còn thở nữa.
Bác Butler bắt đầu sơ cứu cho cô bé trong khi người mẹ cuống quýt bấm điện thoại gọi cấp cứu. Họa vô đơn chí, đường dây không liên lạc được. Người mẹ ôm lấy vai bác Butler một cách vô vọng, và tiếp tục khóc.
- Chị đừng lo - Bác Butler trấn an người mẹ, trong khi vẫn tiếp tục làm các biện pháp sơ cứu - Tôi đã là cánh tay của cô bé để ra khỏi bể bơi, bây giờ tôi sẽ là lá phổi của cô bé. Cùng với nhau thì chúng ta có thể làm được.
Một chút sau, bé Stephanie ho, rồi mở mắt và bắt đầu khóc. Khi người mẹ ôm chầm lấy đứa con, chị hỏi bác Butler làm sao bác biết được rằng bác sẽ cứu được cô bé.
- Khi tôi chợt thấy đôi chân mình biến mất trong vụ nổ, các đồng nghiệp của tôi đều ngất đi, còn tôi nằm trơ một mình giữa khu đất rộng mênh mông - Bác Butler kể lại câu chuyện của mình - Không có ai ở đó, ngoại trừ một cô bé. Cô bé lấy hết sức kéo tôi về nhà mình ở trong làng, vừa đi, cô ấy vừa thì thầm với tôi: “Sẽ ổn thôi, chú ạ. Chú sẽ sống. Cháu là đôi chân của chú. Cùng với nhau, chúng ta có thể làm được”.
- Chị thấy đấy - Bác Butler kết luận - Đây là cơ hội của tôi để đáp lại ơn cứu mạng của cô bé ngày đó.
Đường về nhà
6:11 AMMẹ mất sớm. Cho đến năm lên tám, tôi vẫn sống với ba ở một đồn biên phòng gần biên giới Tây Nam. Một hôm, đang xối nước tắm cho tôi, ba bỗng nói:"Tới lúc con phải về thành phố đi học rồi đó!".
Sau mấy lần sốt rét nặng, cấp dưới của ba là chú Hiều được điều về thành phố. Ba nhờ chú đưa tôi về theo. Chú Hiều có gương mặt hóp tọp, khắc khổ. Trong tất cả các chú trong đơn vị, chú Hiều là người tôi ít mon men tới gần hơn cả.
Ba sửa soạn cho tôi một cái túi hành lý bằng vải. Đi một quãng xa, ngoái lại vẫn thấy ba đứng trông, tôi khóc oà. Mặc kệ tôi khóc nghêu ngao, chú Hiều chỉ im lặng sải bước. Chừng giữa buổi sáng, đang băng ngang cánh đồng lấp xấp nước, có một cái cộ bò kéo tới gần. Người đàn bà trùm khăn kín mặt cất giọng rổn rảng nói gì đó với chú Hiều. Chú dừng lại, trả lời, cũng bằng thứ tiếng khó hiểu. Nói qua nói lại một hồi, chú gật đầu, xốc nách tôi quẳng lên phía sau cộ phủ đầy rơm, rồi nhảy lên theo. Cái cộ xóc xách đảo qua đảo lại. Cái roi trong tay người đàn bà quật vào mông con bò đen đét. Tôi co rúm người, nhủ bụng biết đâu chú Hiều và bà ta đang tính chuyện bán tôi đi. ở đồn biên phòng, tôi cũng biết mấy vụ con nít bị bán qua biên giới, cha mẹ đi kiếm gào khóc thảm thiết.
Hết trảng cỏ thì chú Hiều và tôi xuống cộ. Chú Hiều mở nắp ba-lô, đưa cho người đàn bà một gói lương khô, nói gì đó, rồi nắm tay tôi dắt đi. Trời nóng như hun. Đến trưa, hai chú cháu ghé vô cái chòi canh ruộng dưa. Chú mở nắp lu, cho tôi uống nước bằng gáo dừa.
Đang nghỉ chân trời bỗng tối sầm. Mưa như trút. Đúng lúc đó chú Hiều lại kêu tôi mau mau đeo túi đi tiếp. Tôi níu chú: "Hết mưa rồi đi!". "Hết mưa là lũ về, ngập hết!"- Nói rồi chú Hiếu trùm tấm vải nhựa đi trước. Tôi đành lúp xúp chạy theo, núp vào đuôi áo.
Đúng như chú Hiều đoán, đang đợt lũ về, chỉ một cơn mưa lớn, nước nổi lênh. Qua đồng, nước dâng quá bụng. Chú Hiều cúi xuống bảo tôi trèo lên lưng cõng đi. Chú kêu tôi bám chặt cổ kẻo nước siết cuốn băng. Tay chân tôi tái ngắt, lạnh một phần, phần sợ lũ cuốn.
May sao, lúc nước lên tới ngực, chú Hiều vừa bơi vừa bắt đầu thở gấp, có cái xuồng của một ông già đi lưới cá chèo qua. Ông già cho hai chú cháu lên xuồng. Ông cụ nói:"Lũ thế này... thôi về nhà tao ngủ tối nay, mai đi sớm!". Lòng tôi lại lo thắt. Lỡ ông già không phải người tốt, tính chuyện xí gạt?
Ông cụ ở một mình. Căn chòi đứng lêu khêu trên nước. Bữa tối chỉ có cá nướng. Sáng sớm hôm sau, tôi bị dựng dậy. Ông già bơi xuồng đưa hai chú cháu tôi qua đồng nuớc nổi. Trời hửng cũng là lúc hai chú cháu lên tới thị trấn.
Đoạn đường từ thị trấn về thành phố thật bình an. Tôi dụi mặt vào ba-lô chú Hiều, ngủ ngon lành. Lúc thức dậy, chú Hiều mua cho tôi mía hấp và trứng cút. Tôi hỏi chú Hiều sao dám lên cộ, lên xuồng của người lạ. Chú lại cười:"Phải biết tin vào người khác, con ạ!" Tôi nín lặng. Ba tôi cũng tin chú Hiều, giao phó đứa con gái nhỏ. Và nếu không có chú, không đặt hết tin cậy vào chú trong suốt hành trình, tôi đã chẳng bình an về được tới nhà.
Viết bởi Đỗ Lê Thụy Minh Tiến
Khách hàng đặc biệt
12:41 AMHồi tui chừng 12 tuổi, má tui mở một cửa tiệm nhỏ chuyên bán các loại bút thước, gôm tẩy, đề-can tranh ảnh, những con thú nhồi bông, hình siêu nhân bằng nhựa, các loại nơ, kẹp tóc lặt vặt... Buổi chiều, tui ngồi chễm chệ sau quầy tủ kiếng, bán hàng và thu tiền. Những món đồ dùng học tập mới lạ, độc đáo mà tui đem vô lớp, dùng trước nhất luôn làm bạn bè thích thú, ngưỡng mộ. Không ít bạn dành dụm để có được những món đồ xinh xắn như thế.
Hồi tui chừng 12 tuổi, má tui mở một cửa tiệm nhỏ chuyên bán các loại bút thước, gôm tẩy, đề-can tranh ảnh, những con thú nhồi bông, hình siêu nhân bằng nhựa, các loại nơ, kẹp tóc lặt vặt... Buổi chiều, tui ngồi chễm chệ sau quầy tủ kiếng, bán hàng và thu tiền. Những món đồ dùng học tập mới lạ, độc đáo mà tui đem vô lớp, dùng trước nhất luôn làm bạn bè thích thú, ngưỡng mộ. Không ít bạn dành dụm để có được những món đồ xinh xắn như thế.
Ở cái lớp sáu tui học hồi đó, có Nam. Môi cậu ta bị sứt, nói chuyện khó nghe, phát âm đơn đớt. Nhà Nam không khá giả lắm. Quanh năm cậu ta mặc cái áo sờn cổ, đồ dùng học tập cũ mèm, sứt sẹo. Giờ học môn Văn, cả lớp khoái chí cười rộ khi cậu ta đọc to một bài thơ hay đoạn trích bằng cái giọng ngọng nghịu. Hôm cô chủ nhiệm đổi chỗ trong lớp, phải ngồi kế Nam Thỏ, mặt tui quạu đeo. Nam rút về sát mí ghế. Mỗi khi bị tui kiếm chuyện, cậu ta lấy quyển sách che nửa mặt dưới, ngó tui bằng đôi mắt nể sợ.
Các bạn trong lớp đều là khách hàng cửa tiệm nhà tui, trừ Nam. Lần nọ, khi cậu ta rụt rè hỏi mượn hộp chì màu, tui “tiếp thị” thẳng tưng: “Sao mày không mua mà xài? Cửa hàng của tao có nhiều lắm” Gương mặt cậu ta bỗng tràn đầy hy vọng: “Vy chịu bán hàng cho tui hả?”. Tui tròn mắt: “Hỏi chi lạ. Chiều mày tới nha!” Y hẹn, chiều Nam lò dò tới cửa tiệm. Cậu bạn cầm lên từng hộp chì màu, dòm dỏ một hồi, lại đặt xuống. Tui cau mày, hối: “Mày lựa mau đi!” Nam rụt tay lại, nói thiệt nhanh: “Vy lấy cho mình thứ nào rẻ nhất ấy!” Tui đưa cho cậu ta hộp chì nhỏ chỉ có 6 cây, tem giá 8 ngàn đồng. Nam lí nhí: “Cho thiếu nợ được không? Còn 5 ngàn, mai mốt tui trả tiếp!” Nói rồi, cậu ta thả lên quầy nắm tiền lẻ. Tui đành gật đầu: “Vậy cũng được!”
Lâu lâu, Nam lại ra cửa hàng, bao giờ cũng chọn mua thứ ít tiền nhất. Và bao giờ, cậu ta cũng ghi nợ. Cột nợ ngày càng dài. Một lần nọ, tui nhắc chừng: “Mày thiếu nhiều rồi đó. Tao bị má la cho coi! Mà mày mua nhiều vậy, sao chưa bao giờ thấy dùng đồ mới?” Tên bạn chẳng nói chẳng rằng, rút về mí bàn, ngồi im.
Thỉnh thoảng, khi ngồi canh cửa tiệm, tui lại thấy Nam Thỏ cưỡi xe đạp chạy vụt qua. Phía sau yên xe là mấy cây nước đá cậu ta đi giao cho các xe bán chè hay cửa tiệm cà phê trong xóm. Cuối tuần, cậu ta ghé vào tiệm, trả bớt số nợ, nhưng lại mua thêm vài thứ đồ chơi lặt vặt khác. Nỗi tò mò trong tui ngày càng mạnh. Nam mua đồ dùng học tập và đồ chơi nhiều như vậy để làm gì?
Cuối tháng, tui quyết định đến nhà Nam. Ngôi nhà nhỏ xíu cuối xóm chợ, không khóa. Tui đẩy cửa. Bên trong chỉ có một cậu bé gầy nhom, liệt chân, nằm xoài trên sàn gạch, đang lúi húi vẽ tranh bằng những cây chì màu. Quanh cậu bé, rải rác những món đồ chơi từng mua ở cửa tiệm nhà tui. Chiều hôm đó, tui lẳng lặng đập ống heo, lấy tiền bù vào khoản nợ.
Tui thân với Nam lúc nào chẳng biết. Có một lần, người bạn cùng bàn thổ lộ: “Mai mốt tui đi vá môi sứt, là trở thành bình thường. Còn thằng em tui, suốt đời phải ngồi xe lăn. Lo được cho nó chuyện gì, thì tui ráng làm hết!” Nghe vậy, bỗng tui thấy mình thiệt bé nhỏ biết bao bên cạnh cậu bạn lặng lẽ rụt rè.
Bà Bánh Quy
6:06 PMViết bởi Thục Hân (Dịch)
Nhiều ngày nay, mọi người đã nói về việc những nhân viên thiếu kinh nghiệm sẽ bị cắt giảm. Tôi là người mới nhất, vừa mới ra trường và tất nhiên, ít kinh nghiệm nhất.
Ông giám đốc xuất hiện, nhẹ nhàng đến bàn tôi:
Nhiều ngày nay, mọi người đã nói về việc những nhân viên thiếu kinh nghiệm sẽ bị cắt giảm. Tôi là người mới nhất, vừa mới ra trường và tất nhiên, ít kinh nghiệm nhất.
Ông giám đốc xuất hiện, nhẹ nhàng đến bàn tôi:
- Chúng ta có một lớp đào tạo để giúp những nhân viên bị nghỉ việc tìm được công việc khác. Chẳng hạn cách viết lý lịch, tạo ấn tượng tốt cho các buổi phỏng vấn... Hy vọng cô sẽ giúp cả những học viên khác.
- Tôi hiểu ạ... - Tôi chẳng biết nói gì hơn.
Ông giám đốc đi ra cũng vừa lúc mắt tôi nhoè đi, nhưng tôi vẫn nhìn thấy có một đĩa bánh quy trên bàn họp.
- Ai mang bánh quy tới thế ạ? - Tôi hỏi.
- Có một bà thứ sáu nào cũng đem bánh quy tới - Một đồng nghiệp nói - Ăn nhiều đi nhé!
Tôi quệt nước mắt, lấy hai chiếc bánh quy. Và quyết định về sớm. Khi cửa thang máy mở ra, tôi thấy một cụ bà tóc bạc, đẩy một cái xe đầy ắp đồng phục công ty đi giặt. Thôi, ít nhất bà ấy cũng còn có việc làm! Trên đường về, tôi vừa đi vừa khóc.
Trong lớp học đào tạo tôi thấy một người rất thấp, đội chiếc mũ xanh. Một đồng nghiệp thì thầm:
- Trời đất! Không thể tin được là Bà Bánh Quy cũng bị đuổi! Chẳng lẽ không ai nhớ đến việc bà ấy vẫn mang bánh đến vào thứ sáu hay sao?
Bà Bánh Quy? Chính là bà cụ tôi gặp ngoài thang máy, bà cụ gầy nhỏ với những ngón tay rất gầy guộc. Khi người hướng dẫn cố gắng nói với bà bằng tiếng Tây Ban Nha, tôi biết lớp học này với bà là vô ích.
Giờ nghỉ giải lao, bà cụ mỉm cười, lấy bánh quy ra chia cho chúng tôi.
- Gracias (Cảm ơn!) - Tôi lí nhí, chợt thấy xấu hổ khi nhận ra rằng hoàn cảnh bà cụ còn tuyệt vọng hơn cả tôi, vậy mà lúc này bà vẫn nghĩ tới người khác.
Ngay lúc đó, tôi biết mình sẽ phải làm điều gì đó giúp bà, thậm chí trước khi tôi tự đi tìm việc cho mình. Ngay giờ nghỉ trưa, tôi bắt đầu viết tất cả những gì mình nghĩ về Bà Bánh Quy. Sau đó tôi bỏ bài báo của mình vào phong bì, đem tới một toà soạn báo. “Hy vọng bài báo sẽ được đăng.
Đó sẽ là “chiếc bánh quy” mình tặng bà cụ” - tôi nghĩ như vậy.
Hai tuần trôi qua và bài báo của tôi vẫn không hề xuất hiện. Và đến khi tôi cho rằng bài báo của mình sẽ không bao giờ được đăng thì tôi lại thấy nó.
Và rõ ràng, tôi không phải là người duy nhất đọc được nó. Nhiều nơi viết thư tới cho tôi nói họ sẵn sàng nhận Bà Bánh Quy vào làm việc. Có cả thư của một tiệm bánh cuối phố. Thật tuyệt vời, vì họ là những người Mexico, họ nói tiếng Tây Ban Nha và Bà Bánh Quy không cần người phiên dịch.
Sau đó, dù đang bấn lên tìm việc, tôi vẫn chỉ lo không hiểu bà cụ có hợp với công việc không. Dù sao, Bà Bánh Quy cũng đã dạy tôi luôn nghĩ đến người khác, dù chính mình đang gặp rắc rối.
Máy nhắn tin của tôi kêu. Và đó là một tin nhắn từ tổng biên tập của một tờ báo địa phương, nói rằng ông ấy rất thích bài báo của tôi, và tôi có thể đến đó thử việc.
Tất nhiên, tôi sẽ còn phải cố gắng nhiều trước khi có một công việc mới ổn định. Nhưng có một điều mà tôi hiểu là chắc chắn đúng: Không có việc gì mình làm vì người khác mà là uổng phí cả.
Giveaway of the Day -
| System Requirements: | |
|---|---|
| Publisher: | |
| Homepage: | |
| File Size: | |
| Price: |