Phép màu của bà Chín
12:42 PMBỗng dưng tháng trước, nhỏ Hiếu mon men qua gặp má tui, xin phụ rửa chén. Má tui bán canh bún, tiền lời chẳng bao nhiêu, mướn thêm người rửa chén làm gì. Thế nhưng nhỏ Hiếu chắc cú: “Thím cứ mướn con đi. Thím trả bao nhiêu cũng được!”. Má tui cười: “Trả bằng canh bún được không?”. Má tui nói chơi, vậy mà nhỏ Hiếu gật đầu cái rụp: “Dạ, cũng được.
Bữa sáng và bữa trưa luôn, được hông thím?”. Vậy là má tui đành phải nhận nhỏ Hiếu qua làm.
Nhỏ Hiếu rửa chén bát sạch bong. Giúp má tui dẹp hàng, mình Hiếu xách cái bàn gỗ hay cái nồi nước lèo vô nhà, nhẹ tưng. Lạ là cái tính hung dữ của nó cũng biến đâu mất tiêu. Mấy lần má tui quạu chuyện gì đó, trách rầy nó. Tưởng con nhỏ sẽ trả treo, ai dè nó im ru.
Chỉ có điều, làm ở nhà tui nhưng hồn vía nhỏ Hiếu vẫn gửi tuốt bên sạp hàng trái cây của bà Chín. Hễ thấy khách tới sạp, là nó buông hết, băng ngay qua bên kia, bán xong mới quay lại. Tới giờ cơm, nó ăn quấy quá mấy miếng, rồi chạy về lo cho ngoại. Má tui ngạc nhiên: “Bà Chín canh hàng được rồi, mắc chi con phải chạy tới chạy lui vậy Hiếu?”. Nó làm như không nghe hỏi, cắm cúi rửa chén tiếp.
Làm việc bên nhà tui chưa đủ, nó còn xin rửa ly chè buổi tối ở hàng chè cốc-tai đầu chợ. Trong chợ đồn rằng Hiếu còn nhỏ mà đã có tính ham tiền. Phải ham tiền lắm thì mới làm việc quên chết như vậy chớ.
Dần dần, người trong xóm chợ nhận ra bà Chín dạo này... hiền hẳn. Bà bớt phần càu nhàu với khách. Mấy đứa nhỏ bán hàng rong bày lềnh khênh móc chìa khóa, mũ nón đổ đống ngay trước sạp trái cây, bà cũng không cự nự như trước. Bà thường ngồi khuất trong nhà, ít ra ngoài. Còn nhỏ Hiếu, nhiều bữa tui bắt gặp nó ngồi thẫn thờ, ngó đâu đâu.
Hôm rồi, má gọi nhỏ Hiếu vô, đưa cho nó tiền công tháng đầu. Nó tròn mắt: “Thím trả tiền cho con thiệt sao?”. Má tui hứ một phát: “Bộ mi tưởng tao chỉ trả công bằng mấy chén bún thôi hả. Nhưng nè, khai thiệt đi, mi kiếm tiền lo chuyện chi?”. Con nhỏ cúi gằm mặt, hai má bỗng ướt nước: “Ngoại con bị mù thiệt rồi. Hồi năm ngoái còn thấy mờ mờ. Bây giờ thì chẳng còn nhìn được chi nữa. Con ráng làm nhiều, để dành tiền, đưa ngoại đi bác sĩ mổ mắt, thím ơi…”
Má tui đi vận động các cô bác trong chợ cùng đóng góp tiền đưa bà Chín đi mổ thủy tinh thể. Nhỏ Hiếu mừng đến nỗi chẳng biết nói gì, cứ vịn tay ngoại nó, rồi mếu. Hôm bà Chín được tháo băng, người trong chợ xô qua thăm. Bà Chín nắm tay từng người, nhắc đi nhắc lại: “Cảm ơn cô bác nhiều. Giống như tui được ban phép màu vậy…”. Má tui cười: “Không, phép màu của bà Chín chính là nhỏ Hiếu đó!”.
Xe của ba
12:27 PMTiệm nhỏ nhà tôi luôn đông khách. Phần bởi ba tôi làm gì cũng khéo léo, cẩn thận. Phần bởi đôi chân ba bị liệt, teo tóp dấu sau ống quần phất phơ, ai thấy cách ba tôi di chuyển bằng hai bàn tay to bè xương xẩu cũng đều ngạc nhiên, thương cảm.
Hai anh em tôi học cùng trường. Trường khá xa, phải băng qua hai ngã tư đông đúc. Một lần, anh tôi bị xe tông văng lên vỉa hè. Nghe báo tin, không kịp quơ cây nạng, ba vội vã đi luôn bằng tay. Ra tới nơi, ba vắt anh tôi lên vai, khẽ dỗ tôi nín. Hồi đó mới 7 tuổi, nhưng ôm hai cái cặp xách bước lót tót trên lề đường, tôi thấy mình đã cao gần bằng ba rồi.
Với mấy tấm tôn vụn xin được, ba gò một cái thùng xe nhỏ, gắn thêm hai bánh nối vào đuôi cái xe máy. Sáng, hai đứa phổng mũi ngồi trong thùng xe, ba đưa tới tận cổng trường. Tụi trẻ con trong xóm rướn cổ ngó theo, thèm muốn.
Buổi trưa tan học. Từ xa, anh em tôi đã nhận ra cái thùng nhôm sáng lấp loá, nổi lên trong đám đông xe cộ. Có hôm trời mưa, lại gặp đoạn đường bị đào lên, mấp mô ổ gà. Con ốc vặn nối giữa yên sau và cái thùng xe bằng tôn lờn ra lúc nào không biết. Lúc xe chạy lên dốc cầu, thình lình nó bung hẳn. Cái thùng trôi về phía sau, hai anh em tôi bị tuột xuống mặt đường. Tiếng phanh gấp rít lên, ba tôi vội vã nhảy xuống. Mãi sau này, tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh lòng bàn tay ba rớm máu vì đá dăm sắc nhọn, ráng sức nâng anh em tôi đứng dậy, nối lại thùng xe, cái áo mưa cánh dơi nón lật ra sau, bay phần phật trước gió.
Hai anh em lớn lên. Anh tôi được mua cái xe đạp, tự chạy đi học. Hôm tôi đậu vô lớp 10, mặc áo dài, ba hết sức vui vẻ: “Trường xa lắm đó. Để ba chở con nghe!”. Tôi vặn ngón tay, lúng búng: “Con tự đi một mình được, ba à!”. Sáng khai giảng, tôi dậy sớm, khẽ mở cửa, đi bộ tới trường. Trưa, tôi đi chung xe với bạn về nhà. Tôi bắt đứa bạn mới dừng đầu ngõ,
để nó khỏi thấy ba tôi.
Rồi ba lặng lẽ dẹp tiệm sửa xe trước nhà. Cái thùng tôn sau xe máy cũng bị gỡ ra, xếp xó. Ba xoay qua nghề thợ bạc. Có một nhà thiết kế nhờ ba tôi chế tác bộ nữ trang mới. Bộ mẫu đem dự thi được giải nhất. Buổi trưa nọ, có anh phóng viên tới kiếm, xin phỏng vấn viết bài. Ba ngồi trò chuyện, nhưng đến vụ chụp hình thì nhất định từ chối. Tôi nép sau cửa, nghe ba nói nhẹ nhàng: “Tôi đâu ngại cái chân mình xấu xí. Nhưng thôi, để cho con cái mình chơi với bạn bè khỏi mặc cảm, nhà báo à…”
Tôi chạy vụt ra khoảnh sân sau. ở đó, cái thùng tôn bị tháo rời vẫn lấp lánh dưới mặt trời. Tôi trèo vào ngồi co ro trong thùng xe, như ngày còn bé. Hồi ấy lên xe tôi cười hoài, thế mà giờ tôi lại khóc.
“Một tay dao búa”
8:59 AMMới vào trường, đúng hôm xếp chỗ, tui lại vắng mặt. Hôm sau đến lớp, khi nhận ra người ngồi chung bàn là Sanh, tim tôi muốn ngừng đập.
Sanh lầm lì, cao to một cách đáng ngại, cặp mắt sâu sẫm. Thứ cậu ta đựng sách vở là một cái túi vải bố xám xì, nhìn thiệt bụi bặm. Lớp phó mới được bầu rỉ tai các bạn rằng Sanh không thiết tha gì lắm chuyện học. Nhà Sanh là dân “xã hội đen” sừng sỏ trên chợ đầu mối, ai cũng phải sợ. Lần nọ, có gã lưu manh vào chợ gây gổ với chủ gian hàng mà nhà Sanh nhận bảo kê. Cậu ta nhào tới, vật nghiến tên lưu manh ra đất, bẻ đụi cẳng tay của hắn như bẻ… đọt mía. Nghe chuyện, đứa nào đứa nấy xanh mặt.
Ngồi cùng bàn với Sanh, đầu óc tui căng thẳng, vì nghe đồn cậu ta đi học mang theo cả dao xếp. Canh lúc ra chơi, tui lúi húi mở túi của Sanh ra coi sao. Thình lình Sanh vô lớp. Tui giật bắn người. Nhưng Sanh chỉ giật lại cái túi, không nói gì, vẻ mặt lạnh băng đe doạ ngấm ngầm. Cậu ta hất hàm ra lệnh tui đứng lên. Phen này mình chết chắc rồi, tui nhủ bụng. Sanh mở túi, lôi ra một cây búa. Chỉ vài phát phang nện chí tử vào mộng bàn mộng ghế lỏng lẻo, chỗ ngồi của tui và cậu ta bỗng trở nên chắc chắn. San phủi tay, mặt lừ lừ, vẫn không ngó ngàng gì tui. Đó, cậu ta “dằn mặt” tui bạo lực như vậy đó!
Cuối tháng, thầy chủ nhiệm khuyên tui nên bồi dưỡng thêm môn Toán. Trường đã bỏ các lớp dạy thêm. Thầy gợi ý: “Em có thể nhờ Sanh kèm!”. Tui ngỡ ngàng hỏi lại: “Em kèm cậu ấy hay cậu ấy kèm em?”. Thầy phì cười: “Em không biết Sanh rất khá Toán à?”. Tui há hốc miệng.
Chẳng biết thầy nói gì với Sanh, bữa sau, cậu ta mang tới mấy quyển sách bài tập, đặt ịch lên bàn, nói cụt lủn: “Bài nào tui đánh dấu đỏ, làm đi. Không giải được, nói liền nghe!”. Tui bị đẩy vào thế buộc phải học Toán. Ngán học thì ít, sợ Sanh thì nhiều. Làm xong, cậu ta kiểm tra. Sanh càng ít nói, tui càng sợ. Dù điểm Toán của tui khá lên thấy rõ, nhưng cứ nhớ tới cái búa trong túi xách, rồi màn bẻ ngoéo cẳng tay mà coi…
Tui xin thầy cho tui đổi chỗ. Thầy đồng ý, với điều kiện Sanh cũng muốn vậy. Hôm sau vào lớp, tui tính gặp Sanh nói ngay. Nhưng bữa đó Sanh lại nghỉ học. Rồi suốt một tuần liền đó, cậu ta cũng chẳng tới lớp. Lớp phó xì xào Sanh uýnh nhau trên chợ, bị thương nặng lắm.
Tui được lớp phân công tới thăm Sanh. Lần theo địa chỉ, tui lên chợ. Nhà cậu ta khuất sau vựa củi. Tui đẩy cửa bước vô. Sanh ngồi bên bộ ván, dấp nước lên trán một người phụ nữ gầy nhom. Nhận ra tui, Sanh nói gọn: “Ba tui đi làm xa, nên tui phải nghỉ canh má bịnh nặng!”. Tui nhìn quanh căn nhà nhỏ xíu. Hoá ra nhà Sanh làm mộc. Cậu ta phụ ba từ nhỏ, rành nghề mộc lắm, chứ chẳng hề liên quan đến “xã hội đen” gì đâu. Nghe tui hỏi về vụ bẻ gãy tay tên lưu manh, Sanh trố mắt: “Sao biết hay vậy? Nó móc túi người ta, tui rượt theo túm được, vặn tay ra sau lưng đưa lên công an phường”. Tui ngồi im, thẫn ra. Chao ôi những lời đồn thổi…
Bây giờ, ai muốn đổi chỗ với tui, tui cũng không đổi đâu. Có lẽ cuộc sống vất vả làm Sanh lầm lì, ít khi nở nụ cười vui. Nhưng tui biết, ở bên cạnh những người như cậu ấy, tui học được rất nhiều, bài học về nghị lực sống và vươn lên.
Thợ sửa xe nhí
11:47 AMNăm tui học lớp bảy, con đường trước nhà mở rộng. Mỗi bên lấn vào bốn mét. Giải toả, nhà tui được đền bù một căn hộ chung cư rộng rãi. Tui mừng lắm, khoe với nhỏ Thuý. Con nhỏ tặng tui cái đồng hồ Mickey, gọi là quà “tân gia”. Thế nhưng má rất lo, có nhà mà không còn cửa hàng bánh, biết lấy tiền đâu sinh sống.
Má đem bánh tới mấy tiệm cà phê, cửa hàng xin bỏ mối. Chỗ nào cũng trả giá rẻ mạt. Cuối tháng đóng tiền học thêm, tui không dám mở miệng xin má, lén nghỉ ngang, căng óc nghĩ cách kiếm tiền phụ má.
Một bác hàng xóm cũ đã cho tui bộ đồ nghề. Được bác chỉ dạy, tui biết cách bơm vá ruột xe. Mấy hỏng hóc nhỏ như dơ bu-gi, nghẹt xăng, tui cũng có thể sửa chữa được. Thế là một buổi chiều, tui mang đồ nghề đặt ngay một góc đường nhiều xe qua lại. Cả buổi, chỉ bơm bánh xe, tra dầu nhớt, vặn lại mấy con vít cho khách, tui cũng kiếm ngót nghét hai chục ngàn đồng. Mang tiền về đưa má, má tra gạn mãi, rồi hoảng hồn lên. Tui hỏi khẽ: “Nếu con không làm, má con mình lấy đâu tiền đi chợ?”. Má tui nước mắt lưng tròng.
Bữa sau, thấy tui thay bộ đồ cũ, xách đồ nghề ra cửa, má lật đật chạy theo, đưa cho tui cái nón vải rộng vành, và cái ghế đòn bằng gỗ. Thế là tui thành một chú thợ nhí sửa xe chuyên nghiệp.
Đi làm, tui đội nón sùm sụp, đeo khẩu trang rất kỹ. Có lần, Thuý chạy cái mi-ni Nhật tới vá ruột xe. Lúc tính tiền công, tui chỉ lấy một ngàn đồng. Con nhỏ nhìn sững. Tui ráng lắm để không run bắn lên, tim muốn ngưng đập. Càng ngày, tui càng hay đụng mặt nhiều bạn quen trong lớp. Có đứa ngày nào cũng bơm xe. Cũng may, nhờ bộ cánh nhem nhuốc, chẳng có ai phát hiện ra tui.
Dang nắng nhiều, da tui đen sạm đi. Tóc tai phảng phất mùi xăng nhớt. Mấy lần, ngồi kế tui trong lớp, nhỏ Thuý hỉnh mũi lên hít hít, tim tui lại đập loạn. Tự dưng, tui rất hay nghe ngóng và dễ nổi quạu kinh khủng. Có lần, nghe thằng bạn nói “mặt mày dài như cái bơm”, suýt nữa tui lao vô đấm nó một trận. Sức học tui cũng sa sút thấy rõ. Được cái nhỏ Thuý không hỏi han gì lôi thôi. Nó chỉ mang sách cho tui mượn đọc thêm, chia sẻ với tui các dụng cụ học tập nho nhỏ.
Một hôm, tui sửa xe về nhà, thấy má mừng rỡ không nói nên lời. Mãi sau, má mới khoe có bà khách hàng cũ mời má vô làm thợ bánh ngọt chính trong bếp lớn của khách sạn. Tui nín lặng. ở lớp, ai mà không biết má nhỏ Thuý là giám đốc một khách sạn nổi tiếng. Chắc chắn, nó đã biết bí mật của tui nên đã nói với các bạn mang xe ra sửa. Rồi bây giờ là đến chuyện này.
Má tui đã có việc làm ổn định. Không còn phải ra đường sửa xe nữa, tui lại học khá lên. Dù chẳng thích nói văn hoa đâu, nhưng giờ đây tui đã biết tin cậy vào bạn bè, bắt đầu từ bao điều tốt mà nhỏ Thuý nhân hậu đã làm cho tui.Tác giả của bài viết này là: Huy Hiếu
Xem các bài viết khác của tác giả này.
Người bạn 3 ngày
11:22 AMNăm tui 11 tuổi, má tui sinh thêm một thằng con trai. Má vào viện. Đi học về, tui lủi thủi tự mở tủ lạnh kiếm đồ ăn thức uống. Quần áo cũng phải tự ủi. Đến khi ba gọi điện về nhà, nói má đã sinh mổ và thằng bé nhóc đã ra đời, thì tui hiểu, từ nay chẳng còn ai đoái hoài gì đến tui nữa.
Ba ghé về nhà, lấy thêm đồ đạc, tiện thể chở tui vô viện thăm má và em. Ba bận làm ca nên đưa tui lên phòng má rồi đi ngay. Má tui nằm chung phòng với mấy cô khác. Em tôi được bó tròn như con sâu, bất chợt khóc oe oe. Má tui gắng gượng ngồi lên dỗ bé, vết mổ đau nên lại nằm vật ra.
Tui thì lóng ngóng quá. Bất chợt, một thằng con trai trạc tuổi tui, ở giường ngay kế bên rón rén bước sang. Má tui mỉm cười, gật nhẹ đầu. Thế là thằng người lạ bế bổng thằng nhóc lên gọn hơ. Nó ôm em tui trước ngực, dỗ khéo tới nỗi thằng bé nín dần, cái miệng chóp chép. “Em bé đói rồi nè cô!” - Thằng người lạ kêu lên, đặt em bé vào lòng tay má tui. Nó nhìn má vạch áo cho em bú, chẳng biết mắc cỡ gì cả. Thiệt là lạ!
Má tui bảo Hiếu hơn tui một tuổi. Nó vô bệnh viện nuôi má nó sanh đôi, hai đứa em gái. Một mình nó dỗ hai em, thay tã, pha sữa liền liền tay. Má nó lớn tuổi, lại sinh đôi nên rất yếu sức, chỉ nằm yên một chỗ. Nó bồng em, cho từng đứa bú bình. Nháng một cái, đã thấy nó ôm đồ dơ của hai đứa em đi giặt. Thấy tui, nó cười khì, hỏi: “Sắp tối rồi đó. Mày không đi lấy thêm nước nóng hả? Để pha nước ấm để má mày uống chớ!”. Tui cầm cái bình thuỷ, lính quýnh đi theo Hiếu xuống căn-tin.
Hiếu tất bật như con ong. Lúc thì nó ở bên giường má nó và hai đứa em. Lúc nó lại đảo qua bên góc phòng mấy má con tui. Nó kêu tui đưa tiền. Nó lại xuống căn-tin, mua chung một cà-mên đầy cháo thịt. Hiếu sớt cháo ra mấy phần, chén cho má nó, chén cho má tui. Hai bà mẹ ăn xong, nó vẫy tui ra ngoài, đưa cho tui một cái muỗng và cà-mên, cười hì hì: “Mày ăn đi, rồi tao ăn. Đỡ mất công rửa nhiều chén. Mày đừng lo, rồi tao súc bình sữa giùm luôn cho!”. Mỗi khi tui cần thứ gì, Hiếu đều cho mượn. Tui không biết làm gì, nó tận tình chỉ dẫn.
Buổi tối, tui và Hiếu ngồi bên nôi, nhìn những gương mặt bé bỏng ngủ ngon. Hiếu đưa tay vuốt trán em nó, âu yếm lắm. Má nó mở mắt, mỉm cười: “Có em, con cực quá, Hiếu ha!”. Nó lắc đầu, mắt cười vui. Nhìn Hiếu, bỗng dưng, tui thấy mình kém cỏi và ích kỷ làm sao…
Sau ba ngày, má và thằng em tui được bác sĩ cho ra viện. Tui khấp khởi chào tạm biệt Hiếu. Nó lăng xăng phụ tui xách đồ ra xe, dặn đi dặn lại khi bế em, phải nhớ đỡ cái đầu em bé lên trước. Mải nói chuyện đâu đâu, đến khi xe chạy xa, tui mới sực nhớ chẳng có địa chỉ hay số điện thoại của Hiếu.
Mãi tới khi về nhà, má tui mới bảo Hiếu chỉ là con nuôi của má nó thôi. Ba má Hiếu hồi đó tưởng không có con, nên nhận nó về từ trại trẻ mồ côi. Thiếu thốn tình cảm, được sống trong gia đình, nên lòng nó lúc nào cũng tràn ngập yêu thương. Tui nghe má kể, ngồi lặng đi, chỉ có một hạt nước mắt mấp mí trên mi mắt là sắp rớt xuống.
Cậu nhỏ viết thư
7:47 AMBà vẫy tui: “Vô đây, có việc này nhờ cháu chút xíu!”. Căn nhà rộng rãi mà lạnh lẽo, bà Chín chỉ tui ngồi ngay cái bàn xa-lông, trước mặt có tờ giấy trắng và cây viết. Bà nhờ tui viết thư. Thấy tui tròn mắt, bà giải thích: “Mắt bà yếu quá, viết chữ không ngay hàng. Mấy đứa con ở bên kia hay gọi điện thoại và viết thư về. Bà phải viết trả lời, không thôi tụi nó lại lo…”. Tui gãi đầu gãi tai, báo trước: “Rồi, bà Chín đọc đi. Nhưng chữ con viết xấu hoắc đó nghen!”. “ờ, ráng viết cho dễ đọc chút xíu là được!” – Bà Chín chấp nhận liền.
Tui bắt đầu rị mọ viết theo những gì bà đọc. Có khi bà đọc một câu dài thòng khiến tui ghi hối hả mà vẫn không kịp. Có khi bà lại im lặng rất lâu, làm tui nôn nóng gõ viết chờ đợi. Bà kể về cuộc sống hàng ngày, như nấu món ăn gì, có ai tới thăm, dự tính sẽ đi chơi đâu, rằng sáng nào bà cũng đều đặn ra ngoài tập thể dục nên sức khỏe vẫn dồi dào. Tui buông viết, lé mắt nhìn bà Chín: “Con có thấy bà tập thể dục đâu, bà Chín!”. Bà nói nhỏ: “Cứ ghi vậy đi, cho tụi nó bên kia an lòng!”. Mất hơn một tiếng, lá thư cũng xong. Bà Chín mang cho tui ly nước cam. Lúc đặt xuống bàn, cái ly đột nhiên chao nghiêng, đổ ra ngoài một miếng lớn. Bà Chín lọng cọng lấy miếng giẻ thấm nước. Đó cũng là lúc tui nhận ra tay bà Chín cứ run bắn lên, nhìn rất kỳ lạ.
Sau lần đó, tuần nào tui cũng được bà Chín gọi vô nhờ viết thư. Lần nào cuối thư, khi đọc cái đoạn quen thuộc “Má nhớ các con và mấy đứa nhỏ. Nhớ gửi hình về nhiều cho má coi…” bà Chín cũng khóc. Vậy mà trên đầu thư, bà kể chuyện xôm tụ lắm, làm như mọi chuyện rất ổn thỏa. Chỉ có tui biết rõ chẳng phải vậy đâu. Dạo gần đây, bà Chín bị run nhiều. Không chỉ tay, mà cả toàn thân nữa.
Một hôm, đi học thêm về, tui thấy cổng nhà bà Chín quên cài chốt. Tui chạy vô. Nhà vắng hoe, im lặng. Mất hồi lâu, tui mới nhận ra bà Chín nằm khuất sau bàn bếp, chén mì tôm đổ đầy trên ngực. Bà vẫn tỉnh, nhưng không sao ngồi dậy được. Bà run rất mạnh. Tui đỡ bà dậy, dọn dẹp mọi thứ, chờ tới khi bà ổn hẳn tui mới về nhà.
Tui lại viết thư giùm bà Chín. Chẳng khác bao nhiêu so với những lá thư tui từng viết. Nhưng, canh lúc bà Chín im lặng, ngồi thẫn thờ trong ghế, tui viết lẹ mấy dòng: Thưa cô chú, con là người vẫn viết thư giùm bà Chín đây. Bà Chín bây giờ yếu lắm. Bà bị run cả người, sắp tới không tự chăm sóc bản thân được nữa. Cô chú về với bà nghen. Vì bà tội nghiệp lắm, hay khóc một mình… Bà Chín lại đọc tiếp, rồi bỏ tờ giấy vô phong bì, dán kín, để tui mang ra bưu điện.
Cuối hè, tôi thấy một chị rất trẻ đang dọn dẹp mảnh vườn đầy lá rụng trước nhà bà Chín. Bà Chín đang ngồi nghỉ ở hiên, vẫy tôi lại: “Lại đây con, con gái út bà vừa học Đại học xong, nó về sống với bà luôn!” Rồi bà cười: “Đó, thằng nhỏ vẫn giúp má viết thư mà con cứ hỏi hoài đó”. Chị ấy nhìn tôi, tôi nhìn chị ấy, và cùng cười ấm áp như đã quen thân, có lẽ bởi giữa chúng tôi có một bí mật nho nhỏ. Nỗi cô đơn của cội rễ già, lá non giờ đã hiểu.
Xem các bài viết khác của tác giả này.
Cô gà trụi đuôi
9:43 AMTừ khi ông Nội mất, bà Nội buồn, đau bịnh dây dưa. Người lớn bận rộn, tụi cháu nhỏ suốt ngày học trên trường. Bàn tính mọi nước, cuối cùng bác Hai dưới quê quyết định:"Để anh cho con Bé Ba lên thành phố phụ chăm sóc má, con cháu trong nhà cũng tốt hơn mướn người ngoài".
Một sáng tinh mơ, tiếng gọi cửa ồn ào. Bé Ba lên tới nơi. Bà chị họ cao nhỏng lên, tóc kẹp vểnh sau gáy để lộ cần cổ đen thui. Ngoài hành lý lễ mễ, chị Bé Ba mang theo một con gà mái trụi lông đuôi, cái mào mới nhú, kêu quéc quéc chạy tứ tung phòng khách, đáp trúng cái bình phalê làm nó bể tan. Cuối cùng, con gà bị Bé Ba chụp gọn. Chị cười:"Con mang gà lên nuôi cho đỡ nhớ dưới quê. Tháng sau chắc nó rớt hột, có trứng tươi Nội ăn!" Má tui lượm miểng bình, vẻ mặt không vui. Sực nhớ, má hỏi giật giọng:
- Nè, dưới đó người ta có biết đang dịch cúm gia cầm không?
- Gà vịt mà cũng bày đặt mắc cảm cúm sao, thím? - Chị Bé Ba mắt trợn tròn xoe.
Má càng lo lắng, hỏi dồn:
- Nói thiệt đi, ở dưới nhà con hay chung quanh, có thấy gà tự dưng chết không?
- Lạ gì đâu, thím ơi. Hôm qua, bầy gà nhà con mới chết một con, tiếc ghê luôn.
Má tui đánh rớt cây chổi.
- Rồi xử lý làm sao? - Má thì thào.
- Mần thịt ăn tuốt. Nó chết vì rớt xuống mương nước sau vườn thôi mà!- Chị Bé Ba đáp, lại cười khắc khắc. Bà Nội bật cười. Bé Ba chạy lại ôm lưng Nội, nhắc: "Nội đừng cười lớn. Ho mệt!"
Có chị Bé Ba, bà Nội cũng khoẻ lên vì có nhỏ cháu sớm hôm chuyện trò hủ hỉ thì vui hẳn. Hơn tui hai tuổi, mà chuyện chợ búa cho tới nấu nướng, giặt giũ, chăm sóc cho Nội, Bé Ba làm vèo vèo. Duy có lối nói năng của Bé Ba là má tui không ưa, má bâng quơ:"Nhỏ Ti nhà mình học lối nói năng trớt quớt thì mệt!" Vài bữa, bác Hai gọi điện hỏi thăm Nội, tiện thể trò chuyện với con gái. Bé Ba nói rộn lên trong ống nghe, toàn kể chuyện vui, không hề nhắc mấy vụ rầy la của má.
Cơm nguội, lá rau nhặt ra, Bé Ba đều gom thả con gà trụi. Nó lớn phổng, mào đỏ au. Hôm con gà đẻ trái trứng đầu tiên, Bé Ba khoe ầm. Má ngao ngán:"Hột gà đóng lố siêu thị bán thiếu gì, lại rẻ!" Mặt chị họ bỗng buồn hiu. Chiều tối, Bé Ba lấy cái trứng quý giá đập vô tô cháo nóng để Nội ăn cho bổ.
Tối nào mở TV lên cũng nghe thông báo dịch cúm, má kêu Bé Ba cẩn thận cho sức khoẻ cả nhà. Chị họ kéo tui hỏi ý là sao. Tui đáp liền: "Là thịt con gà đi thôi!" Bé Ba giật nảy: "Nó đang đẻ trứng mà!" Tui trề môi: "Lỡ nó mang bịnh, lây cho Nội là chị lỗi lớn". Tối đó cả nhà được ăn thịt gà. Bé Ba cầm chén mà nước mắt chứa chan. Nội cũng rầu lây. Sáng hôm sau, ngủ dậy thì Bé Ba đã bỏ về quê.
Vắng Bé Ba, trong nhà im ắng lạ. Nội ngã bịnh. Ba và tui buồn. Và cả má cũng thấm buồn. Một sáng, lại nghe tiếng gọi cửa. Bé Ba lên. Chị họ nói nhỏ: "Về tới nhà, con nghĩ ra, lo cho Nội mới là trên hết. Mấy chuyện khác đều nhỏ xíu…". Má tui ôm chầm Bé Ba, sụt sịt: "Đừng giận thím hẹp hòi, nghen con!". Tui nghĩ Bé Ba biết một bí mật nào đó làm má tui phải khóc, phải thay đổi suy nghĩ. Đem hỏi Nội, Nội cười: "Bí mật gì. Ai sống có lòng, trước sau rồi cũng được thương". Tác giả của bài viết này là: Kitty
Xem các bài viết khác của tác giả này.
Người chạy theo xe
10:19 AMVì nhà tôi ở ngược đường với các bạn cùng lớp, nên khi tan học, tôi thường phải đạp xe về nhà một mình. Thỉnh thoảng, giữa những vòng xe đạp, tôi cảm thấy sợ hãi. Nhất là những khi trời sập tối, gió lạnh và sương mù dâng lên trên mặt lộ.
Rồi một buổi chiều đông muộn, có một người nữa đột nhiên xuất hiện, đi chung đường với tôi. Chính xác hơn, người ấy bám theo xe đạp của tôi.
Lúc đầu, tôi không hề để ý. Tuy nhiên, khi nghe tiếng chân đều đều, thậm thịch đuổi sát phía sau, bỗng dưng tim tôi lạnh toát. Thu hết can đảm, tôi thử ngoái nhìn ra sau. Không có ai cả. Chỉ có bóng tối pha màn sương bảng lảng. Tôi co giò đạp dấn trên pê-đan xe đạp. Xe lăn bánh nhanh hơn. Thế nhưng tiếng chân đuổi theo sau rõ ràng cũng tăng tốc, guồng nhanh hơn nữa. Bây giờ thì tôi thấy sợ thật sự. Run rẩy, nhưng đột nhiên, tôi bóp phanh, đột ngột dừng xe lại. Đương đầu tốt hơn trốn chạy. Tôi nghĩ.
Nhưng đó chỉ là một thằng bé chừng 9, 10 tuổi. Nó đứng im, cách đuôi xe tôi một quãng. Đôi mắt nó sáng rực, nổi lên trong bóng tối. Hơi thở nó hổn hển. Nó bước gần hơn về phía tôi. Nó đi lảo đảo, đầy khó khăn. Hình như chân thằng bé ấy có tật.
Tôi làm quen với thằng bé lạ lùng ấy. Nhà nó cách nhà tôi hai dãy phố. Năm ngoái, tôi đã loáng thoáng nghe nói về một thằng bé bị tai nạn giao thông, không còn đi lại được nữa. Những chi tiết nổi lờ mờ trong trí nhớ, dần dần rõ nét. Vì thế tôi rất ngạc nhiên khi thấy chú bé ấy… đang chạy. Nhưng tôi không sao cất lời hỏi han. Tôi chỉ nói đơn giản:
- Lên xe, chị đèo về!
Thằng bé lắc đầu:
- Em đang tập chạy. Chị đi tiếp đi, càng nhanh càng tốt.
- Em tập chạy thế này lâu chưa? – Tôi hỏi khẽ.
- Khá lâu rồi chị ạ. Nhưng vì ngã liên tục nên em chỉ dám chạy một mình, lúc buổi tối vì sợ ai nhìn thấy sẽ cười. Nhưng bây giờ thì em chọn xe chị để bám theo. Mục tiêu của em là một tháng nữa vượt qua xe chị.
…Cậu bé nhìn tôi chờ đợi. Tôi gật đầu với nó, rồi trèo lên yên xe. Tôi cố tình đạp chậm. Chậm đủ để thằng bé không nhận ra. Nó gắng sức chạy. Tôi có thể cảm giác nỗ lực của nó trong hơi thở hổn hển, trong những tiếng chân dồn dập, loạng choạng, xiên xẹo, lúc chậm, rồi lại rướn lên, nhanh lên…
Hai tháng, cậu nhóc dần dần đuổi kịp, chạy song song xe tôi. Rồi đến một ngày, thật kỳ diệu, cậu nhóc đã vượt qua được xe tôi. Tất nhiên là tôi vẫn cố ý chạy chậm. Nhưng nhìn ánh mắt rạng rỡ của cậu nhỏ kìa! Không, rõ ràng là chưa bao giờ tôi được nhìn điều gì lạ lùng và tuyệt vời đến thế.
Chạy qua xe tôi được một đoạn, cậu bé dừng lại, chờ tôi. Tôi đoán là cu cậu mệt rồi. Lần này thì là nó đề nghị tôi:
- Chị đèo em về nhé!
Dĩ nhiên là tôi đồng ý. Cậu bé trèo lên xe tôi với một gương mặt rạng rỡ. Nó nói:
- Ngày mai, em lại tập.
Trên đuờng về, chú nhóc hỏi tôi liệu nó phải tập chạy bao lâu nữa thì có thể đá bóng được. Tôi không phải là bác sĩ nên không biết được điều đó. Nhưng tôi nói với cậu nhóc là sẽ sớm thôi. Tôi tin cậu bé có thể làm được điều kì diệu. Cũng hệt như khi cậu đã tin rằng có thể chạy được trên đôi chân của chính mình.
Bà Sáu
6:16 AM“Bà Sáu ve chai kìa, tụi bây ơi!”, thằng Tũn hét váng. Lập tức, cả đám con nít tụi tui kéo nhau núp vô lùm cây, chỉ chờ cái dáng già nua lọm khọm kia tới gần là alôxô nhảy ra, “Hù!” một cái thiệt lớn. Lần nào bà Sáu cũng phải ôm ngực la hốt, nhưng tụi tui thì cười vang.
Bà Sáu sống một mình. Căn nhà nhỏ của bà ở tuốt cuối làng. Nghe đâu, bà có con cháu ở tận trên Sài Gòn. Tết về, người trong làng chỉ thoáng thấy bóng chiếc xe hơi sang trọng xẹt qua rồi lại mất hút. Còn lại một mình bà Sáu ngồi chơ vơ bên chồng quà cao ngất ngưởng.
Bà Sáu đi bán ve chai tự nuôi thân. Chẳng còn hơi sức để rao, nên gặp ai bà cũng chỉ thều thào: “Ve chai hôn?”. Người lớn trong làng thương bà đứt ruột. Dọn dẹp nhà cửa, người ta nhặt nhạnh khi thì kí giấy vụn, đôi dép rách, khi thì mấy chiếc tô nhựa méo mó hay chiếc muỗng nhôm mỏng quẹt, để thấy bóng bà đi qua thì xách ra cho, nhận vài đồng bạc lẻ để bà đỡ tủi… Nhưng mấy đứa con nít tụi tui thì khoái trêu chọc bà hơn.
Có bữa, bà Sáu như bị đãng trí, bà lụm được ở đâu một chiếc xe hơi đồ chơi bằng nhựa đẹp mê hồn, bà không đem về mà lẳng lặng để ngay bên vệ đường, chỗ tụi tui vẫn thường hay núp rồi bỏ đi. Tụi tui đã có một buổi chiều dài sôi nổi quanh chiếc xe, cho đến khi nó bị tháo tung ra, rồi không sao lắp lại được.
Bữa nọ, cả làng tui xôn xao lên vì đi đâu bà Sáu cũng hỏi về chiếc nhẫn vàng bị thất lạc mà bà mới lụm được hôm rồi. Mọi người đòi coi thì bà cương quyết: “Phải mô tả thiệt chính xác thì tui mới đưa à!”. Thằng Tũn tinh quái: “Bà ơi, nhẫn vàng thì chiếc nào chả giống chiếc nào. Mặt trơn và có màu… vàng chóe!”. Bà Sáu lưỡng lự một hồi rồi... xòe tay ra. Ngay lập tức, nhỏ Mai la làng: “Trời ơi! Chiếc nhẫn mạ vàng con mới làm rớt tối qua đây mà. Chưa tới hai ngàn bạc chứ hổng phải vàng thiệt đâu bà Sáu à!” Tụi tui lại được một phen cười vỡ bụng. Bà Sáu lủi thủi bỏ về.
Mùa mưa ập tới, bà Sáu ít đi ve chai hơn. Nhiều bữa đang đi trên đường, gặp mưa như trút, bà Sáu không núp vào đâu mà thường cứ thế đội mưa đi về. Bà biểu về mau để còn lựa đồ, ít thời gian lắm, đội mưa đã mấy chục năm, chút mưa gió cuối đời, ăn nhằm gì. Ngoại tui bảo bà Sáu đang dành dụm tiền để lên Sài Gòn thăm mấy đứa cháu. Bà Sáu nhớ thương sắp nhỏ đến ngẩn ngơ cả người.
Quả vậy, chắt chiu được chút tiền, một bữa, bà Sáu cười chào mọi người để lên thành phố thăm con. Ai cũng nhìn theo ái
ngại. Mới đi hồi sáng, tới chiều, đã thấy bà lủi thủi về. Bà biểu: “Sài Gòn lạ quá! Nắng gắt nữa chớ không được mát như ở quê mình!”
Dầm mưa riết không sao, dang nắng Sài Gòn có một bữa mà bà Sáu đổ bịnh. Căn nhà nhỏ của bà bỗng thành tấp nập. Người mang cho bà nải chuối chín cây, người mang chục trứng vịt cùng nửa kí đường, ngoại tui còn ngủ lại luôn để chăm sóc bà Sáu cho tiện. Sáng ra ngoại về lo cơm nước cho bên nhà tui, vẫn nấu một bát cháo nóng, gọi tui bê sang cho bà Sáu. Ngoại dặn “Con thương lấy bà Sáu nghen con, con thương bà Sáu cũng là con thương ngoại vậy”.
Đỡ lấy bát cháo từ tay tui, bà Sáu cứ chớp chớp mắt nhìn tui, kéo tui ngồi xuống bên bà, rồi cứ lau nước mắt hoài vậy đó.
Vỡ bối
10:08 AMCho tới bây giờ, dù đã nhiều năm tháng đi qua, tôi vẫn không sao quên được cảm giác hãi hùng từ cái đêm ấy, cái đêm đầu tiên của "Trận lụt thế kỷ" đã biến quê tôi từ một vùng trù phú thành miền đất xác xơ, nghèo túng suốt mấy năm liền. Đó là một đêm tháng bảy, trời không trăng, không sao, oi nồng và lặng yên đến lạ thường. Đang ngủ mê mệt, bỗng cả ba anh em tôi bị dựng dậy bởi tiếng quát giật giọng của mẹ:
- Dậy cả đi, chạy nhanh ra khỏi nhà kẻo nước lụt ập tới bây giờ.
Vừa vơ vội ít quần áo cũ, vài bó củi và mấy cái xoong nhỏ, mẹ tôi vừa ra lệnh:
- Thằng Huy ôm bó củi, thằng Tập ôm túi lõi ngô và bọc quần áo theo mẹ.
Rồi mẹ tôi bỗng hốt hoảng:
- Còn thằng Học đâu?
Tôi lúng túng, vừa rụi cặp mắt cay sè vì ngái ngủ, vừa thưa:
- Dạ...Nó xuống Bà Nội từ tối...
- Cứ tạm để nó đấy, chạy thôi - Mẹ tôi vừa nói, vừa kéo tay tôi chạy ào ra ngõ.
Ra đến đường cái, một âm thanh hỗn độn bao trùm: tiếng trẻ con khóc, tiếng người la hét, tiếng chó sủa, tiếng lợn, gà kêu inh ỏi. Tiếng một ai đó vừa chạy, vừa hô như muốn thông báo cho tất cả mọi người đang ùn ùn chạy ra phía con bối:
- Vỡ...đê Linh Tập rồi, nước chảy...dữ lắm, mọi người nhanh chân...lên kẻo không kịp...
Trong đêm tối mịt mùng, anh em tôi cùng mẹ và cái Hằng (mới gần tròn một tuổi được mẹ tôi ẵm ngửa trên tay) bước thấp, bước cao lần mò về phía có ánh đuốc. Đoạn đường chừng hơn cây số ngày, thường chúng tôi vẫn chạy chơi vậy mà sao hôm nay lại trở nên xa xôi đến thế. Nhiều lúc nhìn mẹ loạng choạng trên con đường mịt mờ, lòng tôi như thắt lại.
Nơi gia đình tôi tá túc là một đoạn bối chưa bị ngập nước. Giữa biển nước mênh mông với những cơn sóng dữ dằn lao vào từ mọi phía, con bối như chiếc lá mỏng manh oằn mình hứng chịu cuồng phong và có thể bị hất tung lên bất cứ lúc nào. Trên quãng đê nhỏ dài chừng non cây số ấy có đến ba, bốn trăm người cùng chen chúc trong cảnh màn trời, chiếu đất suốt mấy ngày đêm liền.
Cùng với nỗi lo nước lụt ngày càng dâng cao, gạo, củi mỗi lúc một cạn dần, mẹ và tôi còn có một nỗi lo khác lớn hơn đó là việc đứa em tôi vẫn kẹt lại cùng bà nội trong làng.
Sang đến ngày thứ ba thì đoạn bối duy nhất còn lại bị ngập nước hoàn toàn. Lúc đầu nguời ta còn tìm cách kê cao chỗ ở bằng gạch, ngói, hòm xiểng nhưng đến giữa trưa thì nước đã ngập tới quá đầu gối người lớn. Một không khí sợ hãi và hoảng loạn thật sự bao trùm lên cả đoạn đê. Số vật dụng mang theo vốn chẳng đáng là bao bị nước cuốn trôi cả, chỉ còn lại hàng trăm con người đứng chôn chân giữa biển nước mênh mông. Tiếng khóc của lũ trẻ càng làm cho người lớn trở nên rối trí. Không khí mỗi lúc một trở nên căng thẳng, ngột ngạt.
…Khó có thể kể hết nỗi kinh hoàng khi ấy. Nhưng cuối cùng thì bốn mẹ con tôi cũng được người ta đưa vào trong đê. Tuy rã rời chân tay vì đói, rét, thay cho việc tìm chút gì bỏ bụng cho khỏi ngất, mẹ tôi quyết định phải đi tìm bà và thằng Học trước đã. Sau này mẹ tôi bảo có lẽ ông Trời còn thương, bởi mới đi được chừng vài trăm mét, tôi bỗng nhận ra thằng em với cái dáng thiểu não, thất thểu từ phía xa. Cứ để cho cu cậu tiếp tục tiến lại, tôi quay ngược báo tin cho mẹ, rồi mấy mẹ con cùng lao về phía nó. Mẹ con tôi ôm chầm lấy nhau trong niềm vui sướng khôn tả. Thằng Học mếu máo, nước mắt chảy dài, và điều không thể tưởng tượng được là trên cổ nó vẫn lủng lẳng một cái xoong con bị mất vung mà mẹ tôi bảo sang bà mượn về nấu bột cho em bé. Hoá ra là hai bà cháu cũng được cứu nhưng lạc nhau mấy hôm liền.
Những năm sau này dù quê tôi không còn bị vỡ bối thêm lần nào nữa nhưng dư âm về "Trận lụt thế kỷ" vẫn còn mãi đến tận bây giờ. Tôi viết những dòng này đúng vào những ngày lũ lớn đang tràn về vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Thương các bạn khôn xiết, quê mình đâu cũng giống nhau.
Tình yêu minh mẫn
12:16 AMCứ bốn năm bố tôi mới ghé qua nhà một lần, ở lại độ mươi ngày. Rồi hơn một ngàn ngày tiếp theo, nhà tôi chỉ có bốn mẹ con với nhau.
Ba đứa chúng tôi như những con thú nhỏ không bao giờ yên ổn. Còn mẹ tôi là một chiến binh quả cảm mang trong lồng ngực mình một trái tim nhân hậu.
Cứ bốn năm bố tôi mới ghé qua nhà một lần, ở lại độ mươi ngày. Rồi hơn một ngàn ngày tiếp theo, nhà tôi chỉ có bốn mẹ con với nhau.
Ba đứa chúng tôi như những con thú nhỏ không bao giờ yên ổn. Còn mẹ tôi là một chiến binh quả cảm mang trong lồng ngực mình một trái tim nhân hậu.
Sau khi giảng giải cho anh tôi nghe, anh đã ngốc nghếch thế nào khi đem chiếc mũ duy nhất của cả ba anh em và một lọ dầu Con Hổ đổi cho thằng Cò lấy hai quả cà chua, mẹ lấy roi, quất vào mông anh một cái thật đau. Mẹ bảo: “Mẹ dạy con bằng lời lẽ, là để cho con nhận ra phải trái. Mẹ dạy con bằng roi, để cho con nhớ mãi chuyện dại dột này và không dám lặp lại”.
Anh trai tôi, ôi, anh trai tôi! Anh trèo ổi ngã gãy tay. Anh thường xuyên về nhà với vết bầm dập rướm máu. Anh mang con cúi xuống đồng hun chuột, làm cháy bùng lên cả một cánh đồng phơi đầy rạ khô. Anh chạy va phải tôi, hất tôi ngã vập cằm vào bậc cửa, gãy ba chiếc răng cửa liền. Rồi anh sợ và trốn biệt tăm. Mẹ tôi đi tìm anh giữa trời mưa gió, đến nửa đêm khóc vì tuyệt vọng, nằm trong màn ngửa mặt lên mới thấy anh ôm cột, ngồi thu lu trên xà nhà!
Còn tôi? Cua đồng buộc dây bò lổm ngổm khắp nhà. Chuồn chuồn buộc đuôi khắp các dây màn. Tôi đem nhốt vào chuồng, nuôi tất cả những gì tôi bắt được. Cả chim non lẫn chuột con. Tất cả các loại lọ của mẹ, tôi đem trút hết, lấy làm hồ nuôi cá. Rồi những ổ trứng thằn lằn, trứng chim, trứng gà tôi đem cho ấp ở những nơi kín đáo, như là chum gạo, chum khoai. Chén bát ăn cơm tôi đem làm vườn ươm, mạ non, giá đỗ, mộng khoai…quanh năm nhú mầm dưới gầm giường của mẹ. Và mẹ chỉ cho tôi ăn roi khi khắp nhà bốc lên mùi chuột chết, cua chết... Rồi tay cầm chổi, chòi chọt hết mọi ngóc ngách trong nhà, lưng ướt đẫm mồ hôi.
Thằng em út của tôi, mẹ phải thường xuyên vác nó chạy xuống phòng y tế nắn xương, bó bột vì cái ước mơ làm phi công của nó. Với tấm dù hoa mẹ dùng làm chăn bay phần phật sau lưng, nó “bay” xuống từ đỉnh đống rơm, nóc chuồng trâu, chạc ba cây xoan…Thường khi chúng tôi nghe nó phát lệnh “Hãy xem ta đây”, chạy ra thì đã thấy nó ngã uỵch, rống như bò dưới đất. Có lần, tôi nghe mẹ hét lên “Nếu mẹ mà có quyền phép gì, mẹ sẽ triệt hạ tất cả những thứ nhú lên cao khỏi mặt đất đến vài mét.”
Nhưng sau mọi sự cố, cuối cùng mẹ thường ôm chúng tôi vào lòng và nói: “Nhưng dù sao, rồi các con cũng sẽ lớn lên, thành những người lớn biết suy nghĩ, thông minh và tử tế.”
Và một ngày, lời tiên đoán của mẹ bỗng thành sự thật, cuộc sống của mẹ đột nhiên tươi sáng. Ba anh em tôi từ giã tuổi ấu thơ, để bước vào thời kỳ “biết suy nghĩ, thông minh và tử tế”.
Một lần, tôi hỏi mẹ, nhờ vào đâu mẹ đủ nhẫn nại và nghị lực để vượt qua những tháng ngày “khủng khiếp” đó? Lại còn lạc quan rằng mẹ sẽ có những đứa con rất tốt? Mẹ cười “Chẳng phải dù rất nghịch ngợm, nhưng trong thâm tâm, các con rất muốn làm mẹ vui lòng sao?”
Mẹ luôn làm ba anh em chúng tôi bất ngờ vì tình yêu thương thấu suốt của mình. Và tôi phải ước rằng, nếu bà mụ đã tặng cho một người phụ nữ những đứa con, thì hãy tặng họ cả tình thương yêu minh mẫn như của mẹ tôi.
Thêm vào ưa thích
Đường về nhà
6:11 AMMẹ mất sớm. Cho đến năm lên tám, tôi vẫn sống với ba ở một đồn biên phòng gần biên giới Tây Nam. Một hôm, đang xối nước tắm cho tôi, ba bỗng nói:"Tới lúc con phải về thành phố đi học rồi đó!".
Sau mấy lần sốt rét nặng, cấp dưới của ba là chú Hiều được điều về thành phố. Ba nhờ chú đưa tôi về theo. Chú Hiều có gương mặt hóp tọp, khắc khổ. Trong tất cả các chú trong đơn vị, chú Hiều là người tôi ít mon men tới gần hơn cả.
Ba sửa soạn cho tôi một cái túi hành lý bằng vải. Đi một quãng xa, ngoái lại vẫn thấy ba đứng trông, tôi khóc oà. Mặc kệ tôi khóc nghêu ngao, chú Hiều chỉ im lặng sải bước. Chừng giữa buổi sáng, đang băng ngang cánh đồng lấp xấp nước, có một cái cộ bò kéo tới gần. Người đàn bà trùm khăn kín mặt cất giọng rổn rảng nói gì đó với chú Hiều. Chú dừng lại, trả lời, cũng bằng thứ tiếng khó hiểu. Nói qua nói lại một hồi, chú gật đầu, xốc nách tôi quẳng lên phía sau cộ phủ đầy rơm, rồi nhảy lên theo. Cái cộ xóc xách đảo qua đảo lại. Cái roi trong tay người đàn bà quật vào mông con bò đen đét. Tôi co rúm người, nhủ bụng biết đâu chú Hiều và bà ta đang tính chuyện bán tôi đi. ở đồn biên phòng, tôi cũng biết mấy vụ con nít bị bán qua biên giới, cha mẹ đi kiếm gào khóc thảm thiết.
Hết trảng cỏ thì chú Hiều và tôi xuống cộ. Chú Hiều mở nắp ba-lô, đưa cho người đàn bà một gói lương khô, nói gì đó, rồi nắm tay tôi dắt đi. Trời nóng như hun. Đến trưa, hai chú cháu ghé vô cái chòi canh ruộng dưa. Chú mở nắp lu, cho tôi uống nước bằng gáo dừa.
Đang nghỉ chân trời bỗng tối sầm. Mưa như trút. Đúng lúc đó chú Hiều lại kêu tôi mau mau đeo túi đi tiếp. Tôi níu chú: "Hết mưa rồi đi!". "Hết mưa là lũ về, ngập hết!"- Nói rồi chú Hiếu trùm tấm vải nhựa đi trước. Tôi đành lúp xúp chạy theo, núp vào đuôi áo.
Đúng như chú Hiều đoán, đang đợt lũ về, chỉ một cơn mưa lớn, nước nổi lênh. Qua đồng, nước dâng quá bụng. Chú Hiều cúi xuống bảo tôi trèo lên lưng cõng đi. Chú kêu tôi bám chặt cổ kẻo nước siết cuốn băng. Tay chân tôi tái ngắt, lạnh một phần, phần sợ lũ cuốn.
May sao, lúc nước lên tới ngực, chú Hiều vừa bơi vừa bắt đầu thở gấp, có cái xuồng của một ông già đi lưới cá chèo qua. Ông già cho hai chú cháu lên xuồng. Ông cụ nói:"Lũ thế này... thôi về nhà tao ngủ tối nay, mai đi sớm!". Lòng tôi lại lo thắt. Lỡ ông già không phải người tốt, tính chuyện xí gạt?
Ông cụ ở một mình. Căn chòi đứng lêu khêu trên nước. Bữa tối chỉ có cá nướng. Sáng sớm hôm sau, tôi bị dựng dậy. Ông già bơi xuồng đưa hai chú cháu tôi qua đồng nuớc nổi. Trời hửng cũng là lúc hai chú cháu lên tới thị trấn.
Đoạn đường từ thị trấn về thành phố thật bình an. Tôi dụi mặt vào ba-lô chú Hiều, ngủ ngon lành. Lúc thức dậy, chú Hiều mua cho tôi mía hấp và trứng cút. Tôi hỏi chú Hiều sao dám lên cộ, lên xuồng của người lạ. Chú lại cười:"Phải biết tin vào người khác, con ạ!" Tôi nín lặng. Ba tôi cũng tin chú Hiều, giao phó đứa con gái nhỏ. Và nếu không có chú, không đặt hết tin cậy vào chú trong suốt hành trình, tôi đã chẳng bình an về được tới nhà.
Viết bởi Đỗ Lê Thụy Minh Tiến
Giveaway of the Day -
| System Requirements: | |
|---|---|
| Publisher: | |
| Homepage: | |
| File Size: | |
| Price: |