happy life why not
Cafe chiều thứ 7 - HHT Select - Some nice music - Some useful software - Some wisdoms - Some thoughts and more ... But what's the meaning of your life? What do you live for? What's the aim of your living? Do you have your own answer?

Một Cốc Trà

4:16 AM

Nan-In, một thiền sư Nhật vào thời Minh - Trị (1868- 1912), tiếp một vị giáo sư đại học đến tham vấn về Thiền. Nan-In đãi trà. Ngài chế một cốc đầy và vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư nhìn cốc nước tràn cho đến khi không nhịn được, bèn lên tiếng: "Nó đã đầy tràn rồi, không thêm được nữa đâu!"

"Thì cũng như chiếc cốc này" Nan-In thong thả nói, "ông đã mang đầy tư kiến và thành kiến. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền nếu ông không cạn cốc của ông?"

Read On 1 comments

Bài kệ cuối Cư Trần Lạc Đạo ...

3:10 AM

Bài kệ cuối Cư Trần Lạc Đạo, Ngài nói:


Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên,
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

Read On 0 comments

Trong bài Xuân Vãn ...

2:08 AM

Trong bài Xuân Vãn, Ngài đã bày tỏ:


Thuở bé đâu từng rõ sắc không,
Xuân về rộn rã nức trong lòng.
Chúa xuân nay bị ta khám phá,
Ngồi lặng nhìn xem rụng cánh hồng.

Read On 0 comments

Trong Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca ...

1:05 AM

Trong đài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, một bản văn bằng chữ Nôm, Ngài đã bộc lộ:


Công danh chẳng trọng
Phú quý chẳng màng.
Tân Hán xưa kia,
Xem đà nhàn hạ.
Kiếm chốn dưỡng thân.
Khuất tịnh non cao,
Náu mình sơn dã
Vượn mừng hủ hỷ
Làm bạn cùng ta.
Vắng vẻ ngàn kia
Thân lòng hỷ xả.
Rồi
Dốc chí tu hành,
Giấy sồi vó vá

Thân này chẳng quản,
Bữa đói bữa no.

Read On 0 comments

Một câu chuyện khó tin

9:18 AM
Viết bởi Lee Simonson - Thục Hân (dịch)

Bạn sẽ thấy câu chuyện này thật khó tin...

Vào năm 1999, cậu bé Kevin Stephan, 11 tuổi, thường đến sân bóng chày, nhặt gậy và bóng cho đội bóng chày của anh trai mình là Rob. Hôm ấy, Kevin lại gần sân tập hơn thường lệ để nhặt vài cây gậy. Thật không may, cậu bé đã ở sai chỗ, vào sai thời điểm, và bị đập rất mạnh bởi cú vung gậy của một cầu thủ không nhìn thấy cậu.

Kevin bất tỉnh. Những người chứng kiến kể lại rằng cậu bé ngã ngay về phía trước, mặt úp xuống đất.

Chỉ trong vòng vài giây, Penny Brown, một y tá tình cờ đi ngang và đang đứng xem đội bóng luyện tập, đã lao đến để giúp đỡ. Cô thấy Kevin bắt đầu tái xám lại và rõ ràng bị suy tim. Cô ấn mạnh vào ngực cậu bé nhưng không có kết quả. Ngay lập tức, cô thực hiện một số động tác sơ cứu dành cho tim phổi và Kevin bắt đầu thở trở lại. Cậu bé được đưa ngay vào bệnh viện và vài giờ sau đó đã được trở về với gia đình. Các bác sĩ nói rằng chỉ chậm một chút nữa thôi là Kevin không thể tỉnh lại được nữa.

Kevin trở về với cuộc sống bình thường. Cậu trở thành một đội viên hướng đạo sinh, rồi học ở trường trung học Lancaster (New York). Cùng lúc đó, cậu cũng trở thành một tình nguyện viên cho Đội Cứu hoả Bowmansville, New York.

Chỉ vừa mới gần đây, khi Kevin đang làm thêm việc rửa bát đĩa ở tiệm ăn Depew thì cậu chợt nghe tiếng vài người khách hoảng hốt hét to kêu cứu. Ông chủ tiệm ăn chạy ngay vào gọi Kevin giúp, vì ông biết cậu có một số kiến thức sơ cứu cần thiết - có một người phụ nữ bị nghẹn thở khi đang ăn.

Kevin chạy ngay ra phòng ăn. Cậu đứng phía sau người phụ nữ bị nghẹn và chỉ sau hai cú ấn mạnh vào vùng cơ hoành theo phương pháp Heimlich (phương pháp cấp cứu cho người bị ngạt), thức ăn bị nghẹn trong cổ được ấn bật ra và người phụ nữ bắt đầu thở được.

Kevin đã cứu được một người, nhưng không phải là một khách hàng xa lạ: cậu đã cứu Penny Brown - cô y tá đã cứu chính cậu 7 năm về trước, khi cậu bị cây gậy bóng chày đập vào ngực!

Câu chuyện này đã được đăng lên trang nhất của nhiều tờ báo ở New York. Penny Brown, cô y tá ở bệnh viên Buffalo, thì nói rằng "Tất cả thật khó tin, nhưng rõ ràng một điều tốt xứng đáng được đền đáp bằng một điều tốt".

Còn Kevin cũng không biết phải giải thích thế nào. Cậu chỉ nói đơn giản: "Có những điều kỳ diệu mà bạn không giải thích được".

Dù cả Kevin và cô Penny không muốn nổi tiếng vì những hành động của mình, nhưng họ đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc luôn sẵn sàng trong những tình huống khẩn cấp. Họ khuyến khích mọi người học các phương pháp sơ cứu đơn giản.

Trong thực tế, chỉ vài ngày sau khi cứu sống cô Penny, Kevin đã gọi điện cho người lính cứu hoả Dan Curtis ở đội cứu hoả mà cậu đang hoạt động tình nguyện để cảm ơn anh đã dạy cho cậu những kỹ năng sơ cứu hiệu quả. Cậu mới chỉ học được những kỹ năng đó trước ngày làm thêm ở tiệm ăn một thời gian ngắn!

Cả Kevin, Penny và Dan Curtis đều nhớ những "ngày kỳ diệu" đó, có lẽ là sẽ nhớ suốt cuộc đời. Và cũng có lẽ, đây là một trong những câu chuyện có thật đẹp đẽ nhất để làm bằng chứng cho lời khẳng định: mọi con người đều cần đến nhau.


Tác giả của bài viết này là: Lee Simonson - Thục Hân (dịch)
Read On 0 comments

Đừng khinh những người không có bằng đại học

10:36 AM

“Đừng nên khinh khi những người không có bằng cấp vì họ cũng có những kĩ năng mà sách vở không hề dạy”, một nhà giáo người Canada đã nói như vậy trong bài cảm nghĩ dưới đây về một xã hội bằng cấp ở Trung Quốc.

Một tấm bằng thực chất cũng chỉ là một mảnh giấy... (Ảnh: Corbis)

Năm nay, Trung Quốc có hơn 10% học sinh tốt nghiệp trung học không tham dự kì thi tuyển sinh vào đại học.

Cơ hội vào đại học ở Trung Quốc hiện nay rất ít, tất cả các trường đại học trong nước cũng chỉ đáp ứng được chưa đến 3 triệu chỉ tiêu tuyển sinh. Điều đó có nghĩa là, cứ 10 học sinh dự thi thì chỉ có 3 học sinh đỗ đại học và không phải bất cứ ai học đại học cũng sẽ lấy được tấm bằng sau 4 năm.

Một tấm bằng cử nhân thực chất cũng chỉ là một mảnh giấy, nhưng trong xã hội Trung Quốc thì sẽ ít cánh cửa mở ra cho những người không có một mảnh giấy như vậy. Nhiều bậc phụ huynh kì vọng con mình sẽ kiếm được một tấm bằng thậm chí khi chúng chưa chào đời.

Áp lực đè nặng lên vai những đứa trẻ ngay cả lúc chúng còn chưa đến trường. Học sinh phải xác định thi đại học ngay từ những năm đầu học phổ thông. Chúng không có lựa chọn nào khác, nhưng mọi thứ dường như bắt đầu thay đổi.

Phải chăng con người sẽ không có kiến thức hoặc không có khả năng làm việc nếu thiếu “mảnh giấy đó”? Xét cho cùng, một tấm bằng không thể phản ánh được tất cả những kĩ năng mà một người có thể có.

Những người không thể vượt qua kì thi tuyển sinh có phải là những người không có năng lực? Hoàn toàn không, vì đó không phải là vấn đề của giáo dục, mà là vấn đề của xã hội: Không có đủ chỗ cho tất cả mọi học sinh theo học đại học.

Là một giáo viên phổ thông đã được 30 năm ở Canada, tôi gặp nhiều trường hợp các bậc phụ huynh đến nhờ tôi khuyên bảo con cái họ - những học sinh không thích học đại học. Thay vì nói chuyện với các em, tôi cố gắng hết sức để làm cho các bậc phụ huynh hiểu rằng nếu thế giới chỉ toàn những thiên tài thì nó sẽ không thể tồn tại được. Tôi cũng giải thích với họ rằng có nhiều loại tài năng và kĩ năng mà con cái họ có thể phát triển như đăng kí học các lớp kinh doanh hay học nghề, hoặc thậm chí là tự học.

Xã hội luôn rất cần những người thợ hàn, thợ nề khéo léo, lính cứu hỏa và các y tá, những doanh nhân và các thương gia. Ở châu Âu và Bắc Mỹ, hay một số nơi khác trên thế giới, những kĩ năng này không được đào tạo trong các trường đại học. Một người có thể học chúng tại một cơ sở đào tạo kĩ thuật hay những lớp học ban đêm.

Người Trung Quốc ngày nay hiểu rằng, một con người không chỉ là một bộ não và một bộ não không chỉ là một cái túi chứa đầy tri thức từ sách vở, mà còn rất nhiều điều khác giới trẻ có thể học như công nghệ giày da và may mặc, ngành thủy lực hay đông lạnh, sửa chữa xe hơi, máy tính, trị liệu và xoa bóp, đầu bếp, làm trang trại và bác sĩ thú y, làm ca sĩ hay diễn viên…

Tôi có biết một nhân viên tiếp tân tự trang bị kiến thức cho mình. Cô tự học và nói tiếng Anh giỏi hơn bất cứ một sinh viên đại học chuyên ngành tiếng Anh nào khác nhưng cô lại không có cơ hội luyện nói. Với vốn kiến thức rộng lớn về thế giới tự trau dồi được, cô đã tham gia cuộc thi nói tiếng Anh và đạt giải cao nhất, vượt qua những ứng viên có bằng cấp.

Điều cần thay đổi ở đây chính là cách nghĩ của mọi người. Không thể nói rằng một người nào đó bất tài vì cô ta hay anh ta không có bằng đại học. Mọi người có thể dùng trí thông minh của mình để lao động tay chân.

Giá trị của xã hội nằm ở đâu khi bạn không thể tìm được một người thợ sửa xe giỏi có thể sửa chiếc xe máy cho bạn một cách dễ dàng, một người lái xe buýt thông minh hiểu rằng bạn đang muốn nói với anh ta điều gì, một người bán báo dạo luôn biết nội dung của những tờ báo và tạp chí mà anh ta bán…

Những giá trị đó có được từ sự đào tạo tốt - đôi khi là trong công việc - và hầu hết là vì mọi người vận dụng trí óc của mình một cách thiết thực.

Đừng nên khinh khi những người không có bằng cấp vì họ cũng có những kĩ năng mà sách vở không hề dạy. Kinh nghiệm của mỗi người có giá trị không kém một kho sách dày được học thuộc lòng.

  • Nhật Anh (Theo China Daily) - vietnamnet

Read On 1 comments

Bạn bè

10:07 AM
Viết bởi Thục Hân (dịch)

Một người đàn ông, sau khi qua đời, được gặp lại chú chó thân yêu của mình, đã qua đời trước ông rất nhiều năm. Ông thấy mình dẫn theo chú chó đi dọc theo con đường dài. Người đàn ông vừa đi chậm rãi vừa ngắm cảnh, tự hỏi con đường sẽ dẫn họ tới đâu...

Đi một lúc, họ tới một bức tường đá trắng rất cao, ở giữa có cổng vòm. Trông bức tường có vẻ được làm bằng loại đá quý, rất cẩn thận và trau chuốt. Nhìn qua cổng, người đàn ông ngạc nhiên khi thấy con đường dẫn vào bên trong dường như toàn bằng vàng lấp lánh. Ông dẫn chú chó lại gần cánh cổng, và thấy một người ngồi ở chiếc bàn ngay cạnh đó.

Ông tiến đến gần hơn, gọi to:

- Xin cho hỏi, chúng tôi đang ở đâu đây ạ?

- Đây là Thiên Đường, thưa ông - Người ngồi ở bàn đáp.

- Ôi... vậy liệu anh có một ít nước cho chúng tôi không?

- Tất nhiên là có, thưa ông. Mời ông vào, chúng tôi sẽ mang tới một ít nước mát ngay lập tức.

Người ngồi ở bàn đứng lên mở rộng cánh cổng.

- Bạn của tôi cũng có thể vào chứ? - Người đàn ông chỉ vào chú chó của mình.

- Xin lỗi ông, nhưng chúng tôi không nhận động vật.

Người đàn ông suy nghĩ một chút, rồi cảm ơn và dẫn chú chó quay trở ra.

Đi một lúc nữa, trên đỉnh một quả đồi xanh mướt, ông thấy một con đường nhỏ dẫn tới một cánh cổng đơn sơ như của một trang trại. Dường như cánh cổng chẳng bao giờ đóng, và cũng chẳng có hàng rào. Đến gần cánh cổng, ông nhìn thấy một người đang ngồi tựa vào gốc cây và đọc sách.

- Xin lỗi - Ông lại gọi to - Anh có chút nước không?

- Có chứ, có một vòi nước ở đằng kia kìa - Người đang đọc sách chỉ tay về một nơi phía bên trong cánh cổng - Anh cứ vào đây!

- Thế còn người bạn này của tôi thì sao? - Người đàn ông chỉ tay vào chú chó.

- Có một cái gáo ở cạnh vòi nước đấy, anh có thể hứng vào đó cho nó uống.

Người đàn ông dẫn chú chó qua cổng, và nhìn thấy một vòi nước với chiếc gáo bên cạnh. Ông uống nước, rồi đổ đầy nước vào gáo cho chú chó uống.

Xong xuôi, ông dẫn chú chó quay lại chỗ người đang ngồi đọc sách.

- Anh cho tôi biết đây là đâu vậy? - Ông hỏi.

- Đây là Thiên Đường - Người đó trả lời.

- Lạ thật - Người đàn ông băn khoăn - Phía dưới con đường kia cũng có người bảo đó là Thiên Đường.

- A, anh nói đến cái chỗ có cổng vòm và con đường lát vàng phải không? Không đâu, đó là Địa Ngục.

- Vậy chẳng lẽ các anh ở đây không cảm thấy khó chịu vì họ cũng sử dụng tên "Thiên Đường" của các anh sao?

- Không hề - Người đang đọc sách trả lời - Chúng tôi còn mừng là đằng khác, vì chính họ đã lọc giúp chúng tôi những người sẵn sàng bỏ bạn thân của mình trong lúc khó khăn.

Tác giả của bài viết này là: Thục Hân (dịch)


Read On 0 comments

Phần thưởng

8:42 AM
Viết bởi Thục Hân (Dịch)

Tôi chạy ríu cả chân vào phòng họp dành cho người nhà của các em hướng đạo sinh tình nguyện. Tôi chạy xuống tận cuối phòng, chọn một chỗ trong góc, và để ý thấy hàng loạt ghế trống. “ít nhất thì mình cũng không phải là người duy nhất đến muộn” - Tôi tự nhủ, thở phào nhẹ nhõm.

Chẳng là mùa hè, trường em trai tôi tổ chức nhóm hướng đạo sinh tình nguyện tên là “Những chú gấu con”. “Những chú gấu con” sẽ hoạt động ngoại khoá chung với các bạn nghèo và khuyết tật. Nếu người nhà của em hướng đạo sinh nào tham gia để quản lý các em luôn thì càng tốt. Và tôi, trong lúc suy nghĩ nông nổi, đã đăng ký tham gia, với tư cách là anh trai của Chris.

Thầy phụ trách nhìn đồng hồ, với một tiếng thở dài khá rõ, thầy bắt đầu cuộc họp. Tôi bắt đầu đếm, chỉ có 5-6 “người nhà tình nguyện” đến dự, trong khi có tới 50 em hướng đạo sinh. Thầy chỉ vào những chiếc ghế trống, và nói đó là khó khăn lớn nhất của hoạt động tình nguyện. Rõ ràng, không nhiều người sẵn sàng “hy sinh” các tối thứ ba hàng tuần trong suốt 3 tháng hè chỉ để loanh quanh với toàn trẻ con.

Trước khi kịp suy nghĩ gì thêm, tôi giơ tay xin tham gia tình nguyện, hướng dẫn và giúp đỡ “Những chú gấu con”, dù tôi gần như không biết gì về việc dạy dỗ một nhóm trẻ con lớp 2 ồn ào và hiếu động.


Buổi “hoạt động tình nguyện” đầu tiên của tôi hỗn độn và ầm ỹ chẳng khác gì ngày đầu tiên của một hội chợ triển lãm. Không đứa trẻ nào chịu ngồi yên nghe gì cả. Chúng cũng không có hứng thú ngồi xem tôi dạy gấp giấy. Chúng chạy và ngã, bẩn hết quần áo - rồi tôi sẽ biết nói thế nào với bố mẹ chúng khi họ đến đón chúng đây?


“Mình đang tự trói mình vào cái gì thế này?” - Tôi tự hỏi, trong đầu đã thảo ra một... lá đơn từ chức.


Nhưng trước sự ngạc nhiên của tôi, dường như những đứa trẻ tự chúng đã thấy vui, chẳng cần tôi làm gì cả. Chúng tự bày trò chia đội đấu vật. Em trai tôi rất tự hào vì có anh trai là “người quản lý” - và điều đó giúp cho nó có quyền được “đặt luật lệ” trong các trò chơi. Thật không ngờ tôi lại “có uy” đến như vậy.


Khi tôi đi dọc theo sân trường, hiếm khi có một cô bé hay cậu bé nhìn thấy tôi mà không chào. Hoặc chạy ra nắm tay tôi một cái, hoặc kể một câu chuyện lặt vặt nào đó, như là mới nhổ một cái răng, phép tính cộng quá khó, có đứa em ăn quá nhiều, hay một chiến thắng vẻ vang của ngày hôm qua khi chơi PlayStation. Tôi sẽ vuốt tóc, vỗ vai chúng, hỏi vài câu và nghe chúng trả lời, trước khi chúng lại chạy vụt đi cùng đám bạn.


Nhìn những cậu bé, cô bé chơi trên sân, giàu nghèo không phân biệt, có khuyết tật hay không cũng hoà đồng như nhau, tôi nghĩ tới những chiếc ghế trống trong buổi họp và những người chưa bao giờ biết niềm vui của hoạt động này - những người chưa nhận được những cái ôm vội vã của một cô bé tay còn cầm kẹo, hoặc chưa nhìn thấy một nụ cười thiếu răng của một cậu bé nghịch ngợm. Nói cho cùng, tôi tặng cho những em bé chỉ một tiếng mỗi tuần, nhưng chúng dùng cả trái tim để làm phần thưởng cho tôi.


Tác giả của bài viết này là: Thục Hân (Dịch)


Read On 0 comments

“Bố già”

8:35 AM
Viết bởi Thu Hà Khi tôi 6 tuổi và bị bọn bạn trọc “Lêu lêu, con của Bố Già!” (tên lóng dành cho trùm Mafia), tôi đã huỳnh huỵch về nhà với bố tôi, 62 tuổi, với mái tóc bạc nhiều, da mặt đầy nếp nhăn và đồi mồi. Và mắt bố đã mở to khi nghe tôi mách xong: “Thế a? Bố cứ tưởng mình phải được kêu là bố cực già cơ!”

Bố tôi mắc bệnh tim từ hồi trẻ. Về già, bệnh này dẫn tới bệnh khớp dai dẳng. Những hôm thời tiết thay đổi, bố mệt nằm trên giường, mẹ đi chợ bảo tôi ở nhà trông bố. Thấy tôi cuồng tay cuồng chân, bố bảo cứ đichơi, bố ở nhà một mình cũng được. Thế là tôi vô tư chạy nhảy. Khi về bị mẹ mắng vì tội vô tâm, nhỡ bố có chuyện gì xảy ra thì sao, tôi khóc rấm rứt. Mẹ còn mắng cả bố vì tội thương con… kì cục. Sau bố gọi tôi lại gần, xoa đầu: “Bố xin lỗi, bố chưa kịp nói với mẹ rằng bố đã cho phép con đi!” Nghe giọng bố yếu ớt, tôi càng oà khóc to hơn, vì thương bố hơn chứ dỗi hờn gì nữa.

Còn khi bố khoẻ, bố hay đi tập thể dục với tôi ở công viên gần nhà, nơi này có nhiều cây to, như một khu rừng bí ẩn. ở đây, bố tôi dạy tôi đánh cầu lông. Tôi cầm vợt đánh mãi mà không trúng, toàn đập vào đất, vào đầu mình. Tôi phụng phịu quẳng vợt đi. Bố nhặt lại chiếc vợt đưa tôi bảo: “Con đã đánh trúng được đất, được đầu thì cũng đánh trúng cầu được mà.” Rồi bố dạy lại tôi cách nắm tay vợt, vươn tay. Sau vô số lần phải chạy khắp nơi để nhặt những quả cầu rơi tứ tung do tôi đánh, rốt cuộc bố cũng có thể gạt mồ hôi mỉm cười khi thấy tôi hò reo, lúc chúng tôi chuyền với nhau 30 lượt cầu liền mới rơi xuống đất.

Công viên cũng là nơi tôi tập đạp xe hai bánh. Tôi ú ớ đạp những vòng xe đầu tiên. Chiếc xe chao đảo rồi bỗng nhiên vững lại, tôi ngoái lại, bố giữ lấy yên xe và đi sau xe: “Có bố đây rồi. Không ngã được đâu!”. Thế là tôi cười, yên tâm đạp tiếp. Rồi khi đã đi quen, tôi sung sướng ngoái lại định kêu bố bỏ tay ra đừng chạy theo nữa cho đỡ mệt, thì đã thấy bố đang vẫy tay cười với tôi từ lúc nào: “Bác giỏi quá! Chúc bác đi xa may mắn! Không cần mang quà về cho tôi đâu!”


***

Năm tôi 17 tuổi, bố tôi bị tai biến mạch máu não. Sau đó, bố bị liệt chân và mắc phải chứng quên. Cả nhà cố gắng hết sức giúp bố hồi
phục trí nhớ, nào là kể lại những chuyện cũ, nấu các món ăn ông thích, hay đưa ông đi gặp bạn bè… Nhưng đã nửa năm rồi, ông vẫn không chắp ghép nổi những dữ liệu đó để nhận ra mình là ai.


Hôm nay sinh nhật bố, tôi trở bố ra ngoài công viên đi dạo. Tôi nhắc lại một số kỉ niệm như bố từng đánh cầu lông, đi xe… nhưng ông
chẳng phản ứng gì.


- Hôm nay là sinh nhật bố đấy bố ạ!- Tôi bảo. Trên xe đẩy, bố tôi vẫn bất động cúi đầu trong bóng chiều ngày càng sẫm lại. Đó là lúc tôi tuyệt vọng nhất, tôi nắm tay nhìn bố thở dài:


- Làm thế nào con chữa khỏi cho bố đây?


Bỗng ông ngẩng lên, nhìn quanh những thân cây to một lúc, chăm chú. Rồi ông chỉ vào một gốc cây sồi phía khuất xa:


- Kho báu! Kho báu! - Ông kêu lên.


- Kho báu nào hả bố?- Tôi ngơ ngác.


- Đào lên, đào lên! – Ông lại nói.


Tôi ngạc nhiên bước đến cái cây bố chỉ và đào lên. Chỉ do sâu một chút là tôi đã thấy một chiếc huy hiệu hình ngôi sao bằng nhôm. Bây
giờ tôi mới nhớ ra, đó là món quà sinh nhật đầu tiên hồi 5 tuổi tôi từng nhận được từ anh họ tôi. Tôi rất quí nó, từng coi là kho báu vô giá. Khi quyết chôn nó, tôi đã nói: “Khi nào bố ốm nữa con sẽ đào kho báu huy hiệu này lên, bán đi để chữa bệnh bố nhé” làm bố vừa dáo dác tìm tôi trong công viên cũng phải bật cười ha ha. Nhưng sau đó, tôi đã quên mất chỗ chôn dấu, và cứ tưởng đã làm mất kho báu của mình vĩnh viễn. Nhưng bố tôi thì không.



Nước mắt ướt đầm trên má, tôi vừa cười, vừa chạy, vừa vẫy bố với chiếc huy hiệu trên tay. Mắt bố bỗng sáng ngời, bố tôi đã nhớ lại
tất cả mọi chuyện theo một cách lạ thường như vậy đấy.



Tác giả của bài viết này là: Thu Hà
Read On 1 comments

Diễn viên xiếc rong

12:59 PM
Viết bởi Huyền Khôi Buổi chiều xế, tụi trẻ con lẻn vào bên trong nhà lồng chợ chơi trốn tìm giữa các sạp hàng. Một lần chậm chân, tui bị ông bảo vệ khóa lối ra, nhốt lại trong nhà lồng chợ. Phát hoảng, tui đứng gào thét một chặp rồi gục xuống, khóc.

Thình lình, một bàn tay đụng nhẹ vào lưng. Quay phắt lại, tui nhìn thấy một gương mặt ốm nhắt, nó nói: “Đi theo tao!”. Tim nện thình thịch, tui đành bước theo thằng nhóc thấp nhỏ. Tới cuối nhà lồng, nó gạt đống vải bạt. Hiện ra lối thông nước đủ một đứa nhỏ chui lọt. Nó tuồn trước, như một con lươn. Tui quýnh quáng mắc kẹt. Rất khó khăn, nó mới kéo được tui ra. Thoát hiểm, tui tính co giò chạy. Nhanh như cắt, thằng nhóc kia túm tui lại: “Trả tiền công, mầy!” “Không trả thì sao!”- Tui sửng cồ. Chưa kịp chớp mắt, tui đã thấy mình té chổng vó trên vỉa hè, bụng bị bàn chân đè lên. Móc hết tiền lẻ đưa cho thằng nhóc, tui mới được thả.


Rồi tui cũng quên thằng nhỏ kỳ quái sống lụi trong nhà lồng chợ. Một trưa hè, phố bỗng rùm beng tiếng trống, tiếng chập chõa. Tụi trẻ con rồng rắn chạy theo gánh xiếc nhỏ dựng rạp diễn trước cổng chợ. Vé bán rẻ bèo nên ai cũng vào coi được. Bỗng dưng tui sững lại. Trong dàn diễn viên ra múa võ chào sân, có một thằng thấp tí, đứng ngay đầu, múa nguều ngoào. Chính là thằng nhỏ sống lụi trong chợ, tên nó rất kêu- Hoàng Diệc. Sau mấy trò tung hứng, xiếc chó, xiếc khỉ lấy tiếng cười rộn rã, tới màn diễn của nhà ảo thuật. Thằng Diệc chui vào cái hộp, chỉ ló đầu ra. Nhà ảo thuật liên tục xuyên hàng chục cây kiếm qua vỏ thùng. Khán giả lặng re, dựng tóc gáy. Nhưng Hoàng Diệc vẫn không sao, lại còn gục gặc đầu, xoay tứ phía, mỉm cười. Lúc nó chui ra bình an vô sự, tiếng vỗ tay ran lên.


Tiết mục đinh của gánh xiếc là trò dựng tháp ghế. Những cái ghế gỗ lần lượt gá một chân chồng lên nhau. Mỗi tầng, có một diễn viên đu người mấp mé. Ông chủ gánh hét lớn khi Hoàng Diệc cuối cùng trồng chuối thành công trên đỉnh tháp. Diễn viên nhí chẳng mang sợi dây bảo hiểm nào. Bỗng đỉnh ngọn tháp đổ nghiêng. ầm… ầm… Thằng diễn viên xiếc nhí đã ngã đụi xuống đất. Tui nghẹt thở. Khán giả hoảng hốt. Ông chủ gánh hét váng lên trong micro: “Nghệ sĩ nhỏ nhứt của tui gặp nạn rồi, bà con ơi!”. Nhiều người thương cảm vội vã chạy lên sạp, nhét tiền vào túi áo thằng nhỏ đang nằm còng queo. Thế nhưng, khi mọi người về hết, Hoàng Diệc lồm cồm ngồi dậy. Nó móc số tiền người ta cho ra vuốt thẳng, đếm, bình thản. Tui nép bên cánh hông cửa chợ, run lên vì kinh hãi.


Chiều tối, tui trốn lại trong nhà lồng chợ. Chẳng khó khăn gì, tui kiếm ra thằng diễn viên xiếc. Nó bó gối trên sạp bán trái cây. “Hoàng Diệc nè!” Nó nhận ra tôi: “Gọi tao là Diệc. Tên kia chỉ gọi khi diễn thôi!” Tui tò mò: “Mầy té đau hôn?” Nó lắc: “Đau gì đâu. Bữa nào tao cũng chơi một cú vậy. Quen rồi…”


Tui và thằng Diệc đánh bạn với nhau từ buổi chiều hôm đó. Nhà ở quê nghèo quá, Diệc theo gánh xiếc, chỉ được nuôi ăn. Nếu dám liều té thì nó mới có tiền gởi về cho má, nuôi nhỏ em bị bịnh. Nó nói với tui: “Đừng giận bữa hổm tao lấy tiền của mầy nghen. Đợt đó nhà tao thiếu quá, tao lỡ làm càn…” Tui nín thinh, chẳng biết nói gì. Chỉ nghĩ có một người bằng tuổi mình ngày nào cũng té để nuôi má và em, tui muốn rớt nước mắt./.

Tác giả của bài viết này là: Huyền Khôi
Read On 0 comments

PHÉP MÀU GIÁ BAO NHIÊU?

11:55 AM
Một cô bé tám tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền. Chỉ có một cuộc phẫu thuật rất tốn kém mới cứu sống được em trai cô bé, và cha mẹ em không tìm ra ai để vay tiền. Do đó, gia đình em sẽ phải dọn đến một căn nhà nhỏ hơn vì họ không đủ khả năng tiếp tục ở căn nhà hiện tại sau khi trả tiền bác sĩ.
Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.

Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau để đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.

Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”

Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”

- Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.

- Em cháu tên Andrew. Nó bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?

- Ở đây không bán phép màu, cháu à. Chú rất tiếc – Người bán thuốc nở nụ cười buồn và tỏ vẻ cảm thông với cô bé.

- Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?

Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”

- Cháu cũng không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. “Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được phẫu thuật, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.”

- Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”

Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.

Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu. Để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”

Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau Andrew đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.
Read On 1 comments

The Venerable Master composed a verse expressing his principles:

10:54 AM
The Venerable Master composed a verse expressing his principles:
Freezing to death, we do not scheme.
Starving to death, we do not beg.
Dying of poverty, we ask for nothing.
According with conditions, we do not change.
Not changing, we accord with conditions.
We adhere firmly to our three great principles.

We renounce our lives to do the Buddha's work.
We take the responsibility to mold our own destinies.
We rectify our lives as the Sangha's work.
Encountering specific matters,
we understand the principles.
Understanding the principles,
we apply them in specific matters.
We carry on the single pulse of the patriarchs'
mind-transmission.
From the time he left the home-life, the Venerable Master firmly maintained the six great principles - do not fight, do not be greedy, do not seek, do not be selfish, do not pursue personal advantage, and do not lie - bringing benefit to the multitudes.
Read On 0 comments

Giveaway of the Day -

System Requirements:
Publisher:
Homepage:
File Size:
Price:
..


4 Free On Internet

Followers